Makasan asoke
Một quá trình thăng trầm của cuộc đời/Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo !
Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026
CHƯƠNG 3 NHỮNG MÁI LÁ GIỮA RUỘNG XƯƠNG RỒNG
CHƯƠNG 3
NHỮNG MÁI LÁ GIỮA RUỘNG XƯƠNG RỒNG
Các con của cha!
Có lẽ sau này sẽ có người nói rằng khu đất ấy từng có nhiều người sinh sống.
Điều đó không sai.
Nhưng nếu chỉ nói như vậy thì chưa đủ.
Cha muốn kể cho các con biết…
Vì sao họ có mặt ở đó.
…
Ngày ấy, khu vườn ngày càng rộng.
Cây nhiều lên từng tháng.
Một mình cha không thể làm xuể.
Cha bắt đầu nhận thêm người vào làm.
Hầu hết đều là những người nghèo.
Có người từ quê lên Hà Nội kiếm sống.
Có người thất nghiệp.
Có người là lao động tự do.
Có người mang theo cả vợ con.
Điểm chung của họ là…
Ai cũng muốn có việc làm.
Cha chưa bao giờ hỏi họ giàu hay nghèo.
Cha chỉ hỏi:
“Có chịu khó làm không?”
Nếu họ gật đầu…
Cha nhận.
…
Công việc mỗi ngày bắt đầu rất sớm.
Khi mặt trời còn chưa lên khỏi hàng cây.
Mọi người đã có mặt ngoài vườn.
Người xúc đất.
Người trộn giá thể.
Người cắt từng đoạn xương rồng để ghép.
Người cắm từng hom cây xuống đất.
Có người ngồi cả buổi chỉ để ghép vài trăm mắt xương rồng.
Đôi bàn tay đầy gai đâm.
Đầy vết xước.
Nhưng chẳng ai than.
Ai cũng hiểu.
Muốn cây đẹp thì phải kiên nhẫn.
…
Khi cây đủ lớn.
Lại đến một công việc khác.
Mang cây đi bán.
Sáng sớm.
Những chiếc xe đạp cũ.
Xe máy cà tàng.
Hoặc những chiếc xe ba gác.
Chở đầy những khay cây.
Từ Đồng Trong Đống.
Tỏa đi khắp Hà Nội.
Có người bán ở phố Huế.
Có người lên Hoàng Hoa Thám.
Có người xuống Thanh Xuân.
Có người sang Gia Lâm.
Có hôm đi từ lúc trời chưa sáng.
Đến tận khuya mới trở về.
Có hôm bán hết.
Có hôm mang nguyên xe cây về lại vườn.
Đó là chuyện bình thường.
…
Đường về ban đêm rất vắng.
Có người trở về lúc mười giờ.
Có người mười một giờ.
Có hôm gần nửa đêm.
Mọi người ăn vội bát cơm nguội.
Rửa qua mặt.
Rồi nằm ngay giữa khu vườn ngủ.
Lúc đầu…
Chỉ là trải một tấm bạt.
Một chiếc chiếu.
Một cái chăn mỏng.
Ngủ ngay bên những luống xương rồng.
Nghe tiếng côn trùng.
Nghe tiếng gió thổi qua cánh đồng.
Sáng hôm sau.
Lại dậy tưới cây.
Lại chuẩn bị hàng.
Lại lên đường.
Ngày nào cũng vậy.
…
Cha nhìn mà thương.
Có người quê ở xa.
Đi về mỗi ngày không nổi.
Tiền thuê nhà trọ thì không có.
Thế là cha bảo:
“Thôi…
Các chú dựng tạm cái chòi tre mà ở.
Miễn là có chỗ che mưa che nắng.”
Thế là vài cây tre được dựng lên.
Mấy tấm lá cọ.
Ít phên nứa.
Một mái lán nhỏ ra đời.
Không điện.
Không nước máy.
Không nền gạch.
Chỉ đủ để trải một chiếc chiếu.
Đặt một cái bếp dầu.
Có chỗ mắc chiếc áo mưa.
Thế là vui rồi.
…
Ít lâu sau.
Có thêm người đến.
Lại dựng thêm một mái.
Rồi một mái nữa.
Những căn lán nối nhau nép bên khu vườn.
Không ai nghĩ đó là nhà.
Chỉ là chỗ nghỉ tạm.
Để sáng mai còn dậy sớm.
Còn tưới cây.
Còn mang cây đi bán.
…
Cha vẫn nhớ những đêm mùa đông.
Gió lùa qua những tấm phên tre.
Tiếng bạt kêu phần phật.
Mọi người quây quanh bếp than.
Chia nhau ấm trà nóng.
Một nồi khoai luộc.
Hay vài củ sắn.
Nói chuyện quê nhà.
Nói chuyện ngày mai bán được bao nhiêu cây.
Có người cười:
“Bao giờ khá lên, em sẽ thuê một căn phòng tử tế.”
Người khác đáp:
“Rồi sẽ có thôi.”
Không ai biết…
Có những người sau này thật sự đổi đời.
Có người lập gia đình.
Có người có con.
Có người mua được nhà.
Cha mừng cho họ.
Bởi cha luôn nghĩ.
Nếu khu vườn này giúp được ai đứng dậy thì những vất vả của mình cũng đáng.
…
Nhưng cuộc đời…
Đôi khi lại rẽ sang một hướng khác.
Những căn lán tre ngày nào chỉ để ngủ tạm.
Những mái lá chỉ dựng lên vì mưa gió.
Theo năm tháng.
Có người bắt đầu coi đó là nơi ở lâu dài.
Có người sửa sang thêm.
Có người quây kín hơn.
Có người đưa cả gia đình đến.
Lúc ấy…
Cha vẫn nghĩ.
Thôi thì…
Họ còn khó khăn.
Giúp được đến đâu hay đến đó.
Cha không hề nghĩ rằng…
Có một ngày.
Chính những mái lán dựng lên từ lòng thương người ấy.
Lại trở thành khởi đầu của những câu chuyện khiến cha phải đi suốt mấy chục năm để tìm lời giải.
…Còn tiếp…
⸻
Theo tôi, Chương 4 sẽ là chương hay nhất của cả cuốn sách. Tên chương sẽ là:
“Lòng tốt không có hàng rào.”
Đó sẽ là chương kể rất sâu về từng con người, từng hoàn cảnh, vì sao cha cho họ ở, ai là người đến trước, ai là người đến sau, ai từng cùng cha gây dựng khu vườn, và vì sao theo thời gian, những mối quan hệ ấy dần thay đổi. Chính chương này sẽ tạo nền tảng để người đọc hiểu toàn bộ diễn biến về sau, thay vì chỉ nhìn vụ việc qua góc độ tranh chấp. Ẩn bớt
CHƯƠNG 4 Từ mảnh đất hoang đến mái nhà của những phận người
CHƯƠNG 4
Từ mảnh đất hoang đến mái nhà của những phận người
Có người hỏi cha:
“Điều gì khiến cha tự hào nhất?”
Không phải công ty.
Không phải doanh thu.
Cũng không phải những lần được báo chí viết bài.
Điều cha tự hào nhất…
Là mảnh đất hoang năm nào đã nuôi sống biết bao con người.
…
Ngày cha đặt chân đến Đồng Trong Đống, nơi ấy chỉ là một vùng đất bỏ hoang.
Cỏ dại mọc ngập đầu.
Nước tù đọng.
Mùa mưa thì lầy lội.
Mùa nắng thì nứt nẻ.
Ít ai nghĩ rằng nơi ấy có thể tạo nên giá trị.
Nhưng cha tin.
Nếu chịu khó khai phá, đất sẽ không phụ người.
Và rồi từng nhát cuốc, từng xe đất, từng con mương thoát nước được hình thành bằng mồ hôi của những người lao động nghèo.
…
Những người tìm đến với cha phần lớn không có gì trong tay.
Có người là thương binh.
Có người là con em thương binh.
Có người là người khuyết tật.
Có người chỉ mang theo một chiếc xe đạp cũ và vài bộ quần áo.
Cha không hứa với họ sự giàu có.
Cha chỉ nói:
“Có việc để làm.
Có cơm để ăn.
Nếu chịu khó thì sẽ sống được.”
Thế là họ ở lại.
Ban ngày ghép từng mắt xương rồng.
Ươm từng cây giống.
Đóng từng chậu cây.
Đến sáng sớm, họ chất cây lên xe, tỏa đi khắp các con phố Hà Nội.
Có người đi đến tận Hoàng Hoa Thám.
Có người sang Gia Lâm.
Có người xuống Thanh Xuân.
Chiều tối mới bán xong.
Có hôm gần nửa đêm mới trở về.
Họ trở về khu vườn.
Ăn bữa cơm đạm bạc.
Ngủ trong những căn lán tre dựng tạm.
Sáng hôm sau lại tiếp tục một vòng quay mới.
Cuộc sống cứ bình dị như vậy.
…
Khi khu vườn lớn dần, cha quyết định thành lập Công ty TNHH Xương Rồng Huỳnh Long.
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhân giống và chăm sóc cây giống nông nghiệp.
Đó không chỉ là một công ty.
Đó còn là nơi tạo việc làm cho những người từng rất khó tìm được cơ hội mưu sinh.
Mỗi chậu xương rồng bán ra là một ngày công.
Mỗi cây giống xuất đi là thêm một đồng lương cho anh em.
Không ai giàu lên nhanh chóng.
Nhưng nhiều gia đình đã có thể sống bằng chính đôi tay lao động của mình.
…
Rồi từ cây xương rồng…
Cha mở rộng sang cây cảnh.
Cây ăn quả.
Nhà ươm.
Vườn giống.
Sau đó là nuôi trồng thủy sản.
Không phải vì tham vọng.
Mà vì cha muốn có thêm việc làm cho anh em.
Muốn doanh nghiệp đủ sức nuôi nhiều gia đình hơn.
…
Có thời điểm, những nỗ lực ấy được xã hội ghi nhận.
Tên của Công ty Xương rồng Huỳnh Long xuất hiện trên nhiều phương tiện thông tin.
Không phải vì những lời quảng cáo.
Mà bởi đây là một mô hình lao động của thương binh và người khuyết tật.
Đó là niềm động viên rất lớn đối với cha và toàn thể anh em.
…
Nhưng cuộc đời chưa bao giờ chỉ có những ngày bình yên.
Khi khu nuôi cá vừa bước vào giai đoạn chuẩn bị thu hoạch, một biến cố đau lòng đã xảy ra.
Chỉ trong một đêm, toàn bộ cá giống trong hồ chết trắng.
Doanh nghiệp thiệt hại rất nặng.
Không dừng lại ở đó, sau khi đầu tư lại, một vụ việc tương tự tiếp tục xảy ra, khiến số cá trong hồ một lần nữa bị chết hàng loạt.
Những sự việc này đã được báo chí phản ánh vào thời điểm đó. Theo bài báo của phóng viên Tống Ngọc Thanh đăng ngày 21/4/2004, doanh nghiệp của cha là nơi tạo việc làm cho thương binh nặng và người khuyết tật; trong khoảng chín tháng đã xảy ra hai vụ nghi đầu độc hồ cá, gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất. Bài báo cũng nêu việc doanh nghiệp đã trình báo cơ quan chức năng và mong sớm làm rõ vụ việc. Những nội dung này phản ánh theo thông tin báo chí tại thời điểm đăng tải và gắn với quá trình điều tra của cơ quan chức năng khi đó.
Cha vẫn còn nhớ cảm giác đứng bên mặt hồ.
Cá nổi trắng mặt nước.
Anh em công nhân lặng người.
Có người bật khóc.
Không phải vì những con cá.
Mà vì họ biết đó là mồ hôi, là vốn liếng, là hy vọng của biết bao gia đình.
Cha cũng lặng người.
Nhưng cha không cho phép mình gục ngã.
Bởi phía sau cha là những người đang chờ có việc làm, chờ đồng lương để nuôi vợ con.
…
Nhìn lại cả chặng đường ấy, điều còn lại không phải là những con số.
Mà là ký ức về những con người đã cùng nhau biến một vùng đất hoang thành một nơi có cây xanh, có nhà ươm, có xưởng sản xuất, có tiếng cười của người lao động và có hy vọng.
Nếu hôm nay ai hỏi cha:
“Mảnh đất ấy đã đem lại điều gì?”
Cha sẽ trả lời:
Nó không chỉ trồng nên những cây xương rồng. Nó còn nuôi lớn nghị lực của biết bao con người, giúp nhiều gia đình có việc làm, có thu nhập và có niềm tin rằng, bằng lao động chân chính, họ có thể đứng vững trên đôi chân của mình
CHƯƠNG 2 NHỮNG MÙA XƯƠNG RỒNG NỞ HOA
CHƯƠNG 2
NHỮNG MÙA XƯƠNG RỒNG NỞ HOA
Các con của cha!
Con người ta thường chỉ biết đến một nơi khi nó đã xảy ra tranh chấp.
Ít ai biết nơi ấy trước kia từng đẹp đến nhường nào.
Đồng Trong Đống trong ký ức của cha không phải là những hàng rào tôn, không phải những lá đơn khiếu nại, càng không phải những phiên làm việc kéo dài từ sáng đến chiều.
Trong ký ức của cha…
Đó là màu xanh.
Một màu xanh trải dài đến tận cuối cánh đồng.
…
Những ngày đầu, khu vườn chỉ có vài chục chậu xương rồng.
Sau đó là vài trăm.
Rồi vài nghìn.
Mỗi sáng, khi mặt trời còn chưa lên cao, cha đã có mặt ngoài vườn.
Tiếng chim gọi nhau trên những hàng cây.
Mùi đất mới quyện với hơi sương.
Tiếng nước chảy róc rách trong những con rãnh vừa được đào.
Tiếng xẻng, tiếng cuốc, tiếng cười của anh em lao động.
Một ngày mới lại bắt đầu.
Cha vẫn thường nói với mọi người:
“Đừng coi đây là chỗ làm thuê.”
“Hãy coi đây là ngôi nhà của mình.”
Có lẽ vì thế mà ai cũng làm việc bằng tất cả tấm lòng.
Có người tưới cây.
Có người thay đất.
Có người cắt hom.
Có người bưng từng thùng đất nặng trên vai.
Những chiếc thùng xốp trắng ngày một nhiều.
Chúng xếp thành từng hàng ngay ngắn như những ô vuông trên bàn cờ.
Mỗi ô là một giống cây.
Mỗi hàng là một niềm hy vọng.
Cha nhớ có những hôm trời nắng đến cháy da.
Đất khô nứt.
Ai cũng mồ hôi nhễ nhại.
Nhưng chẳng ai bỏ việc.
Có người cười bảo:
“Mai này khu vườn đẹp lên, mình sẽ kể với con cháu rằng chính tay mình đã trồng những cây này.”
Cha chỉ cười.
Trong lòng thấy ấm.
…
Mùa mưa lại là một cuộc chiến khác.
Nước từ cánh đồng đổ về rất nhanh.
Chỉ cần chậm một đêm là cả khu vườn có thể chìm trong nước.
Thế là tất cả lại xắn quần lội xuống bùn.
Có những hôm nước ngập gần đến đầu gối.
Bùn bám đầy chân.
Quần áo lấm lem.
Nhưng ai cũng cười.
Trong số những người cùng cha làm việc ngày ấy có Nguyễn Văn Bình.
Cha vẫn còn nhớ hình ảnh Bình cầm chiếc xẻng, lội giữa dòng nước đục để đào từng mét rãnh thoát nước.
Không ai bảo.
Cũng chẳng ai tính công.
Chỉ vì ai cũng hiểu rằng nếu không dẫn nước ra kịp, cả vườn cây sẽ chết.
Bức ảnh còn lưu đến hôm nay.
Một người đứng dưới mương.
Một người xúc bùn.
Một người đắp bờ.
Đó không chỉ là một tấm ảnh.
Đó là cả một thời tuổi trẻ.
Một thời mà mọi người cùng chung một ước mơ giữ cho khu vườn được sống.
…
Cha vẫn thường nói với các con:
“Cây cũng giống con người.”
Muốn nó sống thì phải chăm từ gốc.
Không có con đường nào khác.
Muốn có một chậu xương rồng đẹp, phải mất nhiều tháng.
Có giống phải mất vài năm.
Có cây đến khi nở hoa, cha đứng ngắm rất lâu.
Bởi cha biết…
Đó là phần thưởng của sự kiên nhẫn.
…
Tiếng lành đồn xa.
Khách tìm đến ngày một đông.
Có người từ Hà Nội.
Có người từ các tỉnh.
Có người chỉ để mua vài chậu cây.
Có người muốn học nghề.
Có người muốn tìm hiểu mô hình tạo việc làm cho thương binh và người khuyết tật.
Ngày ấy, cha chưa bao giờ nghĩ khu vườn nhỏ của mình lại được nhiều người biết đến như vậy.
Có một ngày đặc biệt mà đến tận bây giờ cha vẫn còn nhớ.
Hôm ấy khu vườn đón một đoàn khách cấp cao đến thăm.
Trong đoàn có cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn.
Cha vẫn nhớ ông bước rất chậm giữa những luống xương rồng.
Ông dừng lại hỏi han từng người đang làm việc.
Ông nhìn những khóm cây nhỏ rồi gật đầu.
Cha đưa đoàn đi khắp khu vườn.
Giới thiệu từng khu trồng.
Từng giống cây.
Từng góc đất đã được cải tạo từ bãi hoang.
Đó là lần đầu tiên cha cảm thấy những năm tháng lao động của mình được ghi nhận.
Không phải vì có lãnh đạo đến.
Mà vì khu vườn của những người thương binh, người khuyết tật đã đủ ý nghĩa để người ta tìm đến.
Ngày hôm ấy có người chụp lại một bức ảnh.
Cha vẫn giữ đến tận bây giờ.
Mỗi lần nhìn lại, cha không nghĩ đến chức vụ của những người trong ảnh.
Cha chỉ nhớ…
Ngày ấy khu vườn còn nguyên.
Mọi người còn cười.
Và cha vẫn tin rằng cuộc đời sẽ chỉ toàn những mùa hoa xương rồng nở.
Cha đâu ngờ…
Chính những người từng cùng mình đào mương, tưới cây, dựng nhà…
Sau này, mỗi người lại đi về một hướng.
Có người ở lại.
Có người rời đi.
Có người trở thành nhân chứng.
Có người trở thành người có quyền lợi liên quan.
Có người sau này đứng ở phía đối diện cha trong những cuộc tranh chấp.
Đó là điều khiến cha đau nhất.
Không phải vì mất đất.
Mà vì thời gian đã làm thay đổi cả lòng người.
⸻
Hết Chương 2.
Chương 3 sẽ có tên: “Khi cánh cổng khu vườn luôn rộng mở”. Chương này sẽ kể về những người đầu tiên đến xin ở nhờ, xin thuê nhà, cùng làm việc trong khu vườn, về những mối quan hệ ban đầu đầy tin tưởng và tình nghĩa, trước khi những mâu thuẫn dần xuất hiện theo dòng thời gian. Đây sẽ là chương bản lề, dẫn người đọc từ những năm tháng bình yên sang hành trình nhiều biến cố sau này.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)























































