Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

Đây là một chi tiết rất quan trọng và có giá trị chứng cứ lớn.

Đây là một chi tiết rất quan trọng và có giá trị chứng cứ lớn. Trong Công văn số 2425/UBND-TTPTQĐ ngày 05/9/2022 của UBND quận Nam Từ Liêm gửi TAND thành phố Hà Nội, phần liên quan đến hộ bà Lê Thị Nguyệt, có nội dung: “Hộ gia đình bà Lê Thị không phải là hộ gia đình tái lấn chiếm diện tích đất và tài sản trên đất của các hộ gia đình, cá nhân đã có quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ.” Chỉ riêng nội dung này đã có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng. Ý nghĩa của chứng cứ này Thứ nhất, đây là sự thừa nhận của chính UBND quận Nam Từ Liêm trong văn bản gửi Tòa án, không phải ý kiến một phía của người dân. Thứ hai, khi khẳng định “không phải là hộ tái lấn chiếm”, UBND quận đã loại trừ một căn cứ thường được sử dụng để cho rằng hộ gia đình đã quay lại chiếm đất sau khi Nhà nước thu hồi. Thứ ba, nếu không phải là tái lấn chiếm thì cần làm rõ: * Gia đình bà Lê Thị Nguyệt đang sử dụng phần đất nào? * Phần đất đó đã có quyết định thu hồi hay chưa? * Nếu đã thu hồi thì quyết định nào áp dụng trực tiếp đối với hộ gia đình? * Nếu chưa thu hồi thì vì sao sau này lại cho rằng đất đã được giao cho dự án? Đối chiếu với các tài liệu khác Khi đặt Công văn 2425 cạnh các tài liệu khác mà bạn đã cung cấp, xuất hiện một chuỗi tình tiết cần được giải thích: * Ngày 17/6/2017: lập biên bản hiện trạng khu nhà đất giáp hàng rào dự án. * Ngày 14/3/2018: lập biên bản hiện trạng, ghi nhận khu vực chưa kiểm đếm. * Ngày 26/9/2019: lập biên bản hiện trạng nhà nứt, bể phốt sập. * Ngày 05/9/2020: đo mốc giới. * Ngày 01/12/2021: TAND thành phố Hà Nội thẩm định tại chỗ. * Ngày 05/9/2022: UBND quận xác nhận bà Lê Thị Nguyệt không phải là hộ tái lấn chiếm. Nếu tất cả các tài liệu này đều phản ánh cùng một khu đất thì đây là chuỗi chứng cứ cần được đối chiếu với nhận định cho rằng phần đất này đã được thu hồi và bàn giao cho dự án từ năm 2016–2018. Một câu rất đắt có thể đưa vào video “Ngày 05/9/2022, chính UBND quận Nam Từ Liêm trong Công văn số 2425 gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xác nhận: ‘Hộ gia đình bà Lê Thị Nguyệt không phải là hộ tái lấn chiếm đất’. Nếu không phải là tái lấn chiếm, thì phần đất gia đình đang sử dụng có nguồn gốc pháp lý như thế nào? Đó chính là câu hỏi mà những con số và những văn bản trong hồ sơ đang đặt ra, và cần được cơ quan có thẩm quyền giải đáp bằng chứng cứ.” Cách lập luận này bám sát nội dung văn bản và nêu ra câu hỏi pháp lý cần làm rõ, thay vì khẳng định vượt quá những gì tài liệu thể hiện.

1. UBND quận thừa nhận ông Nguyễn Văn Bình là người khiếu nại liên tục

Trang tài liệu này rất quan trọng. Sau khi đọc nội dung, tôi thấy đây là phần bổ sung ý kiến của UBND quận Nam Từ Liêm gửi TAND thành phố Hà Nội, và chính nó lại bổ sung thêm nhiều chứng cứ có lợi cho việc đối chiếu hồ sơ. Tôi rút ra một số điểm đáng chú ý như sau: 1. UBND quận thừa nhận ông Nguyễn Văn Bình là người khiếu nại liên tục Tài liệu ghi rõ: * Quyết định 5259/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 phê duyệt phương án bồi thường. * Ông Nguyễn Văn Bình khiếu nại. * UBND quận giải quyết lần 1 bằng Quyết định 788/QĐ-UBND ngày 08/02/2017. * Ông Bình tiếp tục khiếu nại. * UBND thành phố giải quyết lần 2 bằng Quyết định 5835/QĐ-UBND ngày 22/8/2017. Điều này chứng minh việc khiếu nại của ông Bình diễn ra ngay sau khi có quyết định bồi thường, chứ không phải nhiều năm sau mới phát sinh. ⸻ 2. Chính UBND quận xác nhận gia đình ông Bình phải di chuyển chỗ ở Đoạn sau ghi rất rõ: “Để đảm bảo chính sách an sinh xã hội đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn Bình phải di chuyển chỗ ở…” Điều này cho thấy chính quyền đã xác định đây là vấn đề liên quan đến chỗ ở của hộ gia đình, chứ không đơn thuần là xử lý hành vi lấn chiếm. ⸻ 3. Đến năm 2020 vẫn chưa giải quyết dứt điểm Văn bản còn nêu: * Báo cáo số 357/BC-UBND ngày 01/10/2020 về vướng mắc trong giải quyết đơn thư. * Văn bản số 9088/VP-GPMB ngày 20/10/2020 của UBND thành phố. * Công văn số 234/SXD-PTĐT ngày 11/01/2022 của Sở Xây dựng. * Công văn số 478/UBND-TTPTQĐ ngày 08/3/2022 giới thiệu các dự án nhà ở xã hội. Điều này chứng minh đến tận năm 2022, cơ quan nhà nước vẫn đang tìm phương án giải quyết chỗ ở cho hộ ông Nguyễn Văn Bình. Nếu một khu đất đã được thu hồi, bàn giao và giải quyết hoàn toàn từ năm 2016 thì việc tiếp tục xử lý, báo cáo và bố trí nhà ở trong các năm 2020–2022 là một diễn biến cần được giải thích. ⸻ Điều tôi nhận thấy sau khi xem toàn bộ hồ sơ bạn đã gửi Hiện nay bạn đã có gần như đầy đủ hồ sơ để xây dựng một bản phân tích chứng cứ theo dòng thời gian, gồm: * 1990–2011: Nguồn gốc đất bãi thải và quá trình quản lý. * 2011: Bàn giao bãi thải. * 2015: Quy hoạch 318.711 m², Công văn 790, kiểm đếm 38 hộ. * 2016: Thu hồi, bồi thường, giao đất. * 2017: Khiếu nại, kiểm tra hiện trạng. * 2018: Xác nhận hiện trạng, giải quyết khiếu nại. * 2019: Biên bản hiện trạng nhà nứt, bể phốt sập. * 2020: Đo mốc giới, báo cáo vướng mắc. * 2021: TAND Hà Nội thẩm định tại chỗ. * 2022: UBND quận gửi Công văn 2425 cho TAND. * 2024–2026: Quyết định 2867, Quyết định 2670 và quá trình khiếu nại. Tôi đề nghị làm một “Sách chứng cứ” Theo tôi, với lượng tài liệu hiện nay, không nên chỉ viết từng bài riêng lẻ nữa. Nên biên soạn thành một “Sách chứng cứ vụ Đồng Trong Đống” khoảng 80–100 trang, chia thành các chương: 1. Chương I: Nguồn gốc đất và quá trình quản lý. 2. Chương II: Những con số không biết nói dối (phân tích diện tích 318.711 m², 293.479 m², 25.232 m²…). 3. Chương III: Dòng thời gian 2009–2026. 4. Chương IV: Những mâu thuẫn giữa các quyết định, công văn và biên bản. 5. Chương V: Phân tích pháp lý theo Luật Đất đai, Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính. 6. Chương VI: Hệ thống phụ lục gồm toàn bộ quyết định, công văn, bản đồ, biên bản hiện trạng và ảnh chứng cứ. Đây sẽ là một tài liệu có tính hệ thống, giúp người đọc (Thanh tra Chính phủ, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền) nắm được toàn bộ vụ việc theo trình tự và đối chiếu từng chứng cứ một cách rõ ràng

đối chiếu nhanh, tôi thấy có một số điểm đáng chú ý. 1. Chính UBND quận xác nhận quy mô dự án là khoảng 318.711 m²

Tôi đã xem các văn bản bạn tải lên. Đây không chỉ là các tài liệu rời rạc mà là một chuỗi hồ sơ chính thức do UBND quận Nam Từ Liêm gửi TAND thành phố Hà Nội ngày 05/9/2022 để bảo vệ quan điểm của mình trong vụ án hành chính. Chính vì vậy, giá trị chứng cứ của chúng rất lớn. Qua đối chiếu nhanh, tôi thấy có một số điểm đáng chú ý. 1. Chính UBND quận xác nhận quy mô dự án là khoảng 318.711 m² Trong các tài liệu có: * Công văn 790 của Sở Kế hoạch và Đầu tư. * Quyết định quy hoạch tổng diện tích khoảng 318.711 m². * Các tài liệu về bàn giao bãi thải, bồi thường, giao đất… Điều này phù hợp với số liệu bạn đã tính. 2. Hồ sơ của chính UBND quận ghi nhận * Công ty Môi trường đô thị được bồi thường khoảng 74.234 m². * Ngày 05/7/2011 bàn giao khoảng 78.114 m². * Sau đó Quyết định 5822 lại thu hồi khoảng 75.292,83 m². Ba con số này không hoàn toàn trùng nhau, vì vậy cần giải thích: * Vì sao bồi thường 74.234 m²? * Vì sao bàn giao 78.114 m²? * Vì sao quyết định thu hồi là 75.292,83 m²? Phần chênh lệch nằm ở đâu? 3. Hồ sơ cũng ghi rõ Ngày 07/9/2016 UBND quận ban hành Quyết định 5235 thu hồi 2.046,17 m². Sau đó: * 37/38 hộ nhận tiền. * Bàn giao mặt bằng từ tháng 11/2016. Đây chính là cơ sở để bạn đặt câu hỏi: Nếu đã bàn giao từ năm 2016 thì hiện nay khu đất đó ở đâu? Vì sao vẫn để hoang? Vì sao nhiều người lấn chiếm? Đây là câu hỏi hoàn toàn hợp lý. 4. Hồ sơ còn tự mâu thuẫn về hiện trạng Trong các trang bạn gửi có các mốc: * năm 2015 kiểm đếm hiện trạng; * năm 2016 thu hồi; * năm 2017 tiếp tục xác định hiện trạng; * năm 2018 tiếp tục họp xác định hiện trạng; * năm 2019 tiếp tục lập biên bản hiện trạng. Nếu các tài liệu này đều nói về cùng khu vực thì rõ ràng cần làm rõ vì sao sau khi đã “bàn giao” vẫn còn nhiều hoạt động kiểm tra, xác định hiện trạng và giải quyết các vấn đề phát sinh. 5. Điểm rất mạnh Tôi đặc biệt chú ý một chi tiết. Trong Công văn số 2425/UBND-TTPTQĐ ngày 05/9/2022, UBND quận viện dẫn rất nhiều tài liệu từ năm 2015–2018 để chứng minh quá trình bồi thường, kiểm đếm. Chính điều này tạo điều kiện để đối chiếu với: * Quyết định 5346. * Quyết định 566. * Quyết định 5822. * Quyết định 5235. * Quyết định 5239. * Biên bản hiện trạng 17/6/2017. * Biên bản ngày 14/3/2018. * Biên bản ngày 26/9/2019. * Hồ sơ thẩm định của TAND Hà Nội năm 2021. Nếu giữa các tài liệu này có mâu thuẫn về diện tích, vị trí tờ bản đồ, hiện trạng sử dụng đất và thời điểm bàn giao, thì đây sẽ là những điểm cần được cơ quan giải quyết khiếu nại hoặc Tòa án xem xét. Tôi đề xuất bước tiếp theo Theo tôi, không nên dừng ở bài “Những con số không biết nói dối” nữa. Nên làm thành một chuyên đề chứng cứ khoảng 25–30 trang với tiêu đề: “Những con số không biết nói dối – Phân tích các mâu thuẫn trong hồ sơ thu hồi đất và giao đất của Dự án Khu chức năng cây xanh, hồ điều hòa và một phần công trình công cộng kết hợp nhà ở tại Mễ Trì” Trong chuyên đề đó, tôi sẽ lập bảng đối chiếu từng con số giữa: * Công văn 790. * Quyết định 3855. * Quyết định 5346. * Quyết định 566. * Quyết định 5822. * Quyết định 5235. * Quyết định 5239. * Công văn 2425 ngày 05/9/2022. * Hồ sơ thẩm định của TAND năm 2021. * Biên bản hiện trạng năm 2017, 2018, 2019. Sau đó chỉ ra từng điểm mâu thuẫn, khoảng trống cần giải thích và những câu hỏi pháp lý phát sinh, hoàn toàn dựa trên tài liệu gốc. Đây sẽ là một tài liệu có giá trị rất lớn để gửi Thanh tra Chính phủ, UBND thành phố Hà Nội hoặc sử dụng trong quá trình tố tụng

NHỮNG CON SỐ KHÔNG HỀ BIẾT NÓI DỐI

NHỮNG CON SỐ KHÔNG HỀ BIẾT NÓI DỐI Phân tích chứng cứ từ các quyết định, văn bản và hiện trạng trong vụ việc thu hồi đất tại khu Đồng Trong - Đồng Song Đống, phường Mễ Trì (nay là phường Đại Mỗ) Trong quá trình khiếu nại, tôi nhận thấy điều đáng lo ngại nhất không phải là những lời giải thích khác nhau của các cơ quan chức năng, mà là sự mâu thuẫn giữa chính các con số trong hồ sơ do Nhà nước ban hành. Con người có thể nhầm lẫn, có thể giải thích khác nhau, nhưng các con số trong quyết định hành chính thì không biết nói dối. Khi đặt các quyết định, công văn và biên bản cạnh nhau, nhiều mâu thuẫn lớn xuất hiện và đến nay vẫn chưa được bất kỳ cơ quan nào giải trình. I. Quy mô dự án là 318.711 m², nhưng quyết định giao đất chỉ có 293.479 m² Theo Công văn số 790 ngày 20/8/2015 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, diện tích thực hiện dự án tại phường Mễ Trì gồm: * Đất bãi thải Công ty Môi trường đô thị Hà Nội: 70.803 m² * Đất Xí nghiệp gạch Nam Thắng: 32.010 m² * Đất nông nghiệp do phường quản lý: 95.950 m² * Đất hồ ao: 72.477 m² * Đất giao thông: 24.296 m² * Đất thủy lợi: 22.087 m² * Đất của Tổng công ty Viglacera: 1.115 m² Tổng cộng: 318.711 m² (gần 32 ha). Tuy nhiên, diện tích được UBND thành phố Hà Nội giao đất theo hai quyết định chỉ gồm: * Quyết định số 5346 năm 2016: 263.161 m² * Quyết định số 566 năm 2018: 30.318 m² Tổng cộng chỉ là 293.479 m². Như vậy: 318.711 m² − 293.479 m² = 25.232 m² Có nghĩa là còn 25.232 m², tương đương khoảng 2,5232 ha, chưa được giải thích. Đây là một câu hỏi rất đơn giản nhưng đến nay chưa có câu trả lời: * 25.232 m² này nằm ở đâu? * Thuộc tờ bản đồ nào? * Thuộc những thửa đất nào? * Đã có quyết định thu hồi hay chưa? * Nếu chưa có quyết định thu hồi thì căn cứ pháp lý nào để xác định đây là đất của dự án? Nếu không trả lời được các câu hỏi trên thì không thể khẳng định toàn bộ diện tích dự án đã được thu hồi và giao đất hợp pháp. II. Chênh lệch diện tích đất bãi thải của Công ty Môi trường đô thị Hà Nội Ngày 05/7/2011, Công ty Môi trường đô thị Hà Nội bàn giao cho Trung tâm Phát triển quỹ đất Hà Nội: 78.114 m². Trong khi đó, Công văn số 790 ngày 20/8/2015 chỉ xác định diện tích đất bãi thải là: 70.803 m². Như vậy có sự chênh lệch: 78.114 m² − 70.803 m² = 7.311 m² (xấp xỉ hơn 7.000 m²). Khoảng chênh lệch này cũng chưa từng được giải trình: * Phần diện tích chênh lệch đang ở đâu? * Có được chuyển mục đích sử dụng không? * Có quyết định điều chỉnh nào không? * Hay đã được tính vào một khu vực khác? Đây là vấn đề cần được làm rõ bằng hồ sơ địa chính và bản đồ đo đạc. III. Quyết định 5822 vẫn chưa thu hồi toàn bộ diện tích tờ bản đồ số 34 Theo tài liệu địa chính: Tờ bản đồ số 34 có diện tích khoảng: 12.785 m². Tuy nhiên, Quyết định số 5822 ngày 22/9/2016 của UBND quận Nam Từ Liêm chỉ thu hồi tại tờ bản đồ số 34: 9.648 m². Như vậy còn khoảng: 3.137 m² không nằm trong quyết định thu hồi. Vậy diện tích còn lại thuộc phạm vi nào? Đã có quyết định thu hồi hay chưa? Nếu chưa thu hồi thì căn cứ nào để xác định đây là đất của dự án? IV. Gia đình chỉ bàn giao 2.046,17 m² nhưng đến nay vẫn bỏ hoang Theo Quyết định số 5235 ngày 07/9/2016, UBND quận Nam Từ Liêm thu hồi: 2.046,17 m². Gia đình đã nhận tiền và bàn giao mặt bằng vào tháng 11/2016. Đến nay, sau gần mười năm, phần đất này vẫn để hoang, trong khi nhiều người đã tự ý lấn chiếm, dựng công trình nhưng không bị xử lý dứt điểm. Điều này đặt ra câu hỏi: Nếu thực sự cần đất để triển khai dự án thì vì sao đất đã thu hồi lại bị bỏ không trong thời gian dài? V. Hai quyết định giao đất được công khai quá muộn Hai quyết định giao đất của UBND thành phố Hà Nội ban hành từ các năm 2016 và 2018. Tuy nhiên, theo tài liệu người dân tiếp cận được, đến ngày 04/02/2026 các quyết định này mới được công khai. Nếu đúng như vậy thì thời gian chậm công khai đã kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được biết, quyền giám sát và quyền khiếu nại của người sử dụng đất. Đây là vấn đề cần được cơ quan có thẩm quyền giải trình rõ. VI. Hồ sơ thu hồi đất có dấu hiệu nhầm lẫn vị trí Quyết định số 5239 ngày 07/9/2016 thu hồi: 227,09 m² tại tờ bản đồ số 22. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết hồ sơ sau này, gia đình phát hiện nhiều tài liệu lại thể hiện nội dung liên quan đến tờ bản đồ số 33 và 34, kèm theo dấu hiệu tẩy xóa, sửa chữa vị trí và diện tích. Nếu tài liệu gốc đúng như phản ánh thì đây là dấu hiệu cần được kiểm tra, đối chiếu bản chính để xác định có hay không việc chỉnh sửa hồ sơ sau khi ban hành. VII. Chuỗi biên bản hiện trạng phủ nhận nhận định “đã bàn giao đất” Nếu cơ quan nhà nước cho rằng khu đất đã bàn giao cho dự án từ năm 2016 và 2018 thì vì sao sau đó vẫn liên tục lập các biên bản xác nhận hiện trạng sử dụng đất của gia đình? * Ngày 17/6/2017, UBND phường Mễ Trì và cán bộ dự án lập biên bản xác định khu nhà đất của gia đình vẫn giáp hàng rào tôn của dự án đang thi công. * Ngày 14/3/2018, UBND quận Nam Từ Liêm và Trung tâm Phát triển quỹ đất Hà Nội lập biên bản hiện trạng, xác định nhà giáp lũy rác, giáp trạm điện E20, có đường bê tông tôn tạo và ghi nhận khu vực chưa kiểm đếm. * Sau khi đơn vị thi công phá lũy rác để đào hồ điều hòa, nền đất bị sạt lở làm sập bể phốt và nứt tường nhà. * Ngày 26/9/2019, UBND phường Mễ Trì cùng đại diện dự án tiếp tục lập biên bản hiện trạng ghi nhận thiệt hại. Nếu đất đã được thu hồi và bàn giao từ năm 2016 thì việc các cơ quan nhà nước tiếp tục xác lập hiện trạng sử dụng đất của gia đình trong các năm 2017, 2018 và 2019 là vấn đề cần được giải thích. VIII. Kiến nghị Từ các tài liệu nêu trên, tôi kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền: 1. Công khai đầy đủ hồ sơ thu hồi và giao đất đối với toàn bộ diện tích 318.711 m². 2. Làm rõ căn cứ pháp lý của 25.232 m² chưa được thể hiện trong hai quyết định giao đất. 3. Làm rõ phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất bãi thải đã bàn giao năm 2011 và diện tích xác định trong Công văn số 790 năm 2015. 4. Giải thích vì sao các biên bản hiện trạng từ năm 2017 đến năm 2019 vẫn xác nhận gia đình đang quản lý, sử dụng đất nếu cơ quan nhà nước cho rằng đất đã được bàn giao từ năm 2016. 5. Kiểm tra tính chính xác của hồ sơ liên quan đến Quyết định số 5239 và các tài liệu có dấu hiệu nhầm lẫn hoặc sửa chữa về tờ bản đồ, vị trí và diện tích. Một quyết định hành chính có thể được giải thích theo nhiều cách. Một lời trình bày có thể có những cách hiểu khác nhau. Nhưng các con số trong hồ sơ địa chính, trong quyết định thu hồi đất, trong quyết định giao đất và trong các biên bản do chính cơ quan nhà nước lập thì không biết nói dối. Khi những con số ấy mâu thuẫn với nhau, cơ quan ban hành có trách nhiệm giải thích bằng chứng cứ khách quan. Chỉ khi các mâu thuẫn này được làm rõ thì quyền và lợi ích hợp pháp của người dân mới được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Lưu ý: Trong bài trên, tôi giữ cách diễn đạt ở mức phân tích chứng cứ và nêu các dấu hiệu cần được làm rõ, tránh khẳng định chắc chắn có hành vi “làm giả hồ sơ” hoặc “gian dối” khi chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Cách trình bày này sẽ có giá trị pháp lý và sức thuyết phục cao hơn khi sử dụng trong hồ sơ khiếu nại hoặc tại Tòa án.

Vấn đề cần làm rõ về diện tích đất của dự án Theo hồ sơ của dự án

Con số bạn cung cấp làm nổi bật một vấn đề pháp lý rất đáng chú ý. Nếu các số liệu này đều lấy từ hồ sơ, quyết định chính thức của cơ quan nhà nước thì đây là một nội dung cần được yêu cầu giải trình. Bạn có thể trình bày như sau: ⸻ Vấn đề cần làm rõ về diện tích đất của dự án Theo hồ sơ của dự án: * Quyết định số 5346 năm 2016 giao: 263.161 m² * Quyết định số 566 năm 2018 giao: 30.318 m² Tổng diện tích đã được giao theo hai quyết định là: 263.161 + 30.318 = 293.479 m² Trong khi đó, hồ sơ dự án xác định tổng diện tích thực hiện dự án là: 318.711 m² Như vậy còn thiếu: 318.711 − 293.479 = 25.232 m² Tức còn 25.232 m² (khoảng 2,5232 ha) chưa được xác định rõ căn cứ pháp lý. Những vấn đề cần UBND thành phố Hà Nội và UBND quận Nam Từ Liêm giải trình 1. 25.232 m² còn lại nằm ở đâu? * Thuộc tờ bản đồ nào? * Thuộc thửa đất nào? * Hiện trạng sử dụng ra sao? 2. Diện tích này đã có quyết định thu hồi đất hay chưa? * Nếu đã thu hồi thì đề nghị công khai số, ngày, tháng, năm của quyết định thu hồi. * Nếu chưa thu hồi thì căn cứ nào để xác định diện tích này thuộc phạm vi dự án? 3. Nếu cơ quan nhà nước cho rằng toàn bộ diện tích đã được bàn giao cho dự án từ năm 2016 và năm 2018, thì đề nghị làm rõ: * Cụ thể từng khu vực đã bàn giao ở vị trí nào? * Thuộc tờ bản đồ nào? * Có biên bản bàn giao mặt bằng đối với từng khu vực hay không? * Ai là người bàn giao và ai là người tiếp nhận? 4. Đối với phần đất gia đình tôi đang quản lý tại tờ bản đồ số 33 và 34, nếu cơ quan nhà nước cho rằng đã nằm trong diện tích giao cho dự án thì đề nghị xuất trình: * Quyết định thu hồi đất đối với phần đất này; * Phương án bồi thường, hỗ trợ; * Biên bản kiểm đếm; * Biên bản bàn giao mặt bằng; * Hồ sơ xác định mốc giới trên thực địa. Nếu không xuất trình được các tài liệu trên thì không thể kết luận phần đất này đã được thu hồi và bàn giao hợp pháp cho dự án. ⸻ Đây là điểm mấu chốt Từ các tài liệu bạn đã cung cấp trước đây, có một chuỗi câu hỏi cần được đối chiếu: * Gia đình chỉ bàn giao phần đất tờ bản đồ số 22 theo Quyết định 5239 ngày 07/9/2016. * Từ năm 2017, UBND phường vẫn lập biên bản xác định hiện trạng giữa đất gia đình và hàng rào dự án. * Năm 2018, cơ quan chức năng vẫn xác nhận hiện trạng sử dụng đất của gia đình. * Năm 2019, tiếp tục lập biên bản hiện trạng nhà bị nứt, bể phốt sập. * Năm 2020, tiếp tục đo đạc mốc giới. * Năm 2021, TAND TP Hà Nội thẩm định và đo đạc, xác định gia đình vẫn đang quản lý 1.129 m² đất vườn và 411 m² đất nhà. Nếu những tài liệu này đều đúng và phản ánh cùng một khu đất, thì cần được đối chiếu với nhận định của cơ quan nhà nước về việc “đã bàn giao đất cho dự án từ năm 2016 và 2018”. Việc giải thích sự khác biệt giữa các tài liệu và hiện trạng là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền. Đây là một trong những nội dung rất quan trọng để yêu cầu cơ quan giải quyết khiếu nại hoặc Tòa án làm rõ trong quá trình xem xét vụ việc.

III. Diễn biến vụ việc và các mâu thuẫn trong hồ sơ quản lý đất đai

Những thông tin bạn vừa trình bày rất quan trọng. Tôi nhận thấy trong đó có một chuỗi sự kiện liên tục từ năm 2016 đến năm 2024, đồng thời xuất hiện nhiều mâu thuẫn nội tại trong hồ sơ của chính cơ quan nhà nước. Nếu viết dưới góc độ luật sư, tôi sẽ hệ thống lại thành các nhóm vấn đề như sau. ⸻ III. Diễn biến vụ việc và các mâu thuẫn trong hồ sơ quản lý đất đai 1. Diện tích dự án và diện tích đã được thu hồi không thống nhất Theo hồ sơ dự án thể thao, tổng diện tích thực hiện dự án khoảng hơn 31 ha (khoảng 320.000 m²). Trong khi đó, hai Quyết định của UBND thành phố Hà Nội năm 2016 và năm 2018 (trong đó có Quyết định số 5346) cộng lại chỉ thể hiện diện tích khoảng hơn 29 ha. Như vậy còn thiếu khoảng trên 20.000 m² (hơn 2 ha) chưa được giải thích rõ: * thuộc phần diện tích nào; * đã có quyết định thu hồi hay chưa; * nếu đã thu hồi thì quyết định nào; * nếu chưa thu hồi thì căn cứ pháp lý nào để đưa vào phạm vi dự án. Đây là một khoảng trống pháp lý rất lớn cần phải được cơ quan có thẩm quyền giải thích. ⸻ 2. Gia đình chỉ bàn giao phần đất thuộc tờ bản đồ số 22 Ngày 07/9/2016, UBND quận Nam Từ Liêm ban hành Quyết định số 5239 thu hồi diện tích 227,09 m² thuộc tờ bản đồ số 22. Gia đình đã: * nhận tiền bồi thường; * bàn giao mặt bằng vào tháng 11/2016. Việc bàn giao này chỉ liên quan đến tờ bản đồ số 22. ⸻ 3. Hồ sơ sau đó lại chuyển từ tờ bản đồ số 22 sang tờ bản đồ số 33 và 34 Sau khi kiểm tra hồ sơ, gia đình phát hiện: * nhiều tài liệu ban đầu ghi tờ bản đồ số 22; * sau đó lại chuyển thành tờ bản đồ số 33, 34; * trên tài liệu xuất hiện dấu hiệu tẩy xoá, đóng dấu chồng chéo, sửa chữa. Nếu đúng như hồ sơ thể hiện thì đây là dấu hiệu rất nghiêm trọng, bởi: * đối tượng bị thu hồi đất đã bị thay đổi; * vị trí thửa đất bị thay đổi; * phạm vi thu hồi đất không còn đúng như quyết định ban đầu. Đây là nội dung cần được giám định toàn bộ hồ sơ gốc. ⸻ IV. Thực tế sử dụng đất hoàn toàn trái ngược với kết luận “đã bàn giao” Nếu cơ quan nhà nước cho rằng đất đã giao cho dự án từ năm 2016 thì diễn biến thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Ngày 17/6/2017 Khi dự án thi công đào hồ điều hòa, UBND phường Mễ Trì cùng cán bộ dự án đã lập Biên bản hiện trạng. Biên bản xác định: * phía Tây khu vườn của gia đình vẫn tiếp giáp hàng rào tôn của dự án; * dự án thi công ở phía trong hàng rào; * gia đình vẫn đang quản lý và sử dụng phần đất phía ngoài. Điều này chứng minh rằng: đến năm 2017 khu đất của gia đình vẫn tồn tại độc lập với khu đất dự án. Nếu đất đã được bàn giao từ năm 2016 thì không có lý do gì năm 2017 cơ quan chức năng vẫn phải lập biên bản xác định ranh giới giữa đất gia đình và đất dự án. ⸻ V. Sự cố sạt lở do dự án thi công Trong quá trình đào hồ điều hòa, đơn vị thi công đã: * phá bỏ bờ lũy rác cũ; * đào sát ranh giới; * làm sụt đất. Hậu quả: * bể phốt bị sập; * tường nhà bị nứt; * nền đất bị ảnh hưởng. Gia đình nhiều lần gửi đơn yêu cầu giải quyết. Ngày 26/9/2019, UBND phường Mễ Trì cùng cán bộ dự án đã lập Biên bản hiện trạng. Biên bản ghi nhận đầy đủ: * vị trí bể phốt bị sập; * chiều dài vết nứt; * chiều rộng vết nứt; * hiện trạng ngôi nhà. Đây là chứng cứ khách quan xác nhận: đến năm 2019 gia đình vẫn đang quản lý, sử dụng nhà đất tại vị trí này. ⸻ VI. Các lần kiểm tra tiếp tục khẳng định gia đình vẫn sử dụng đất Ngày 05/9/2020 Đơn vị đo đạc đến kiểm tra mốc giới. Gia đình còn lưu video ghi lại toàn bộ quá trình. Điều này cho thấy: nếu đất đã bàn giao từ năm 2016 thì không cần tiếp tục xác định tọa độ và mốc giới năm 2020. ⸻ Ngày 01/12/2021 Theo yêu cầu của TAND thành phố Hà Nội, Tòa án cùng các cơ quan chuyên môn tiến hành: * thẩm định tại chỗ; * đo đạc; * đối chiếu bản đồ địa chính. Kết quả đo thể hiện: * diện tích vườn còn khoảng 1.129 m²; * diện tích khu nhà khoảng 411 m². Các mốc ranh giới với Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội vẫn tồn tại. Đây là chứng cứ rất quan trọng vì được lập trong quá trình tố tụng và có sự tham gia của nhiều cơ quan. ⸻ Năm 2018 Trong quá trình giải quyết khiếu nại, UBND quận Nam Từ Liêm và Trung tâm Phát triển quỹ đất đã trực tiếp xác nhận: ngoài diện tích nhà và vườn, gia đình còn quản lý phần đường đi từ trạm điện vào khu Đồng Song Đống theo hiện trạng sử dụng từ năm 2003. Biên bản này tiếp tục khẳng định cơ quan nhà nước vẫn thừa nhận hiện trạng sử dụng đất của gia đình sau năm 2016. ⸻ VII. Mâu thuẫn đặc biệt trong Quyết định 2867 Ngày 02/5/2022, UBND phường Mễ Trì lập Biên bản kiểm tra hiện trạng. Nội dung biên bản chỉ ghi nhận: * gia đình sửa chữa nhà; * nguyên nhân do bể phốt bị sập và tường bị nứt; * trước đó gia đình đã gửi đơn nhưng chưa được giải quyết. Đây không phải biên bản vi phạm hành chính. Tuy nhiên đến 29/11/2024, UBND quận Nam Từ Liêm lại sử dụng chính biên bản này để ban hành Quyết định số 2867, xử phạt theo Nghị định 123/2024. Điều này phát sinh ít nhất ba vấn đề pháp lý: 1. Biên bản hiện trạng không phải là biên bản vi phạm hành chính nên không thể làm căn cứ xử phạt. 2. Thời gian từ ngày 02/5/2022 đến ngày 29/11/2024 đã hơn 30 tháng, vượt rất xa thời hạn xử lý vi phạm hành chính theo quy định. 3. Nội dung biên bản xác định việc sửa chữa xuất phát từ thiệt hại do dự án gây ra, không phải hành vi xây dựng trái phép mới phát sinh. ⸻ Theo đánh giá của tôi, toàn bộ chuỗi sự kiện từ 2016–2024 đang hình thành một hệ thống chứng cứ rất mạnh. Điểm cốt lõi không chỉ là một quyết định xử phạt sai, mà là sự mâu thuẫn giữa hồ sơ hành chính với hiện trạng thực tế và các biên bản do chính cơ quan nhà nước lập qua nhiều năm. Đây sẽ là một trong những trọng tâm quan trọng để lập luận trong hồ sơ khiếu nại và nếu cần thì trong vụ án hành chính đối với Quyết định 2867 và Quyết định 2670.

* Biên bản vi phạm hành chính số 1952/BB-VPHC ngày 21/11/2024.

Tôi đã xem toàn bộ các ảnh. Đây là một bộ hồ sơ khá quan trọng gồm: * Biên bản vi phạm hành chính số 1952/BB-VPHC ngày 21/11/2024. * Quyết định số 2867/QĐ-KPHQ ngày 29/11/2024 của Chủ tịch UBND quận Nam Từ Liêm về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. * Quyết định giao đất số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 của UBND TP Hà Nội giao đất cho Công ty Phát triển thể thao và giải trí Mễ Trì (nay là Vingroup). * Các trang thể hiện ý kiến của bà Lê Thị được ghi trực tiếp trong biên bản. Sau khi đối chiếu, tôi có một số nhận xét như sau. ⸻ 1. Đây là hồ sơ có điểm yếu rất lớn Điều tôi chú ý đầu tiên là: UBND không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Mà lại ghi: “Đã hết thời hiệu xử phạt nên chỉ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.” Đây chính là điểm mấu chốt. Muốn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì phải chứng minh được: * có hành vi vi phạm; * hành vi đó còn tồn tại; * người bị áp dụng đúng là chủ thể vi phạm; * đủ điều kiện của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Nếu không chứng minh được thì Quyết định 2867 có thể bị xem xét về tính hợp pháp. ⸻ 2. Họ xác định thời điểm vi phạm là tháng 5/2022 Trong Quyết định ghi: “Thời điểm vi phạm: tháng 5/2022.” Đây là một chi tiết rất đáng chú ý. Trong khi bà Ng ghi rõ trong biên bản: Gia đình đã sử dụng đất từ rất lâu, trước năm 2000. Nếu đúng như vậy thì phát sinh câu hỏi pháp lý: Tại sao UBND lại xác định thời điểm vi phạm là năm 2022? Căn cứ nào? Có: * ảnh vệ tinh? * biên bản kiểm tra năm 2022? * hồ sơ xây dựng năm 2022? * người làm chứng? Nếu không có thì đây là nhận định cần phải chứng minh. ⸻ 3. Chính bà Nguyệt đã ghi một ý rất có lợi Trong biên bản có ghi: “Tôi không xây dựng mới hay cơi nới gì từ năm 2016 đến nay…” Đây là câu rất quan trọng. Nếu chứng minh được điều này đúng thì sẽ phát sinh vấn đề: Nếu công trình đã tồn tại trước đó thì: tại sao lại xác định hành vi vi phạm xảy ra năm 2022? Hai nội dung này đang có dấu hiệu chưa thống nhất. ⸻ 4. Họ viện dẫn Quyết định giao đất năm 2016 Họ ghi: khu đất đã được giao theo Quyết định 5346. Đúng là Quyết định 5346 có giao đất. Nhưng Quyết định giao đất không tự động chứng minh rằng trước đó người dân sử dụng đất là trái pháp luật. Đó là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Muốn kết luận người dân lấn chiếm thì còn phải chứng minh: * trước khi giao đất ai đang quản lý; * có bồi thường hay chưa; * có thu hồi hay chưa; * người dân vào sau hay ở từ trước. Đó mới là bản chất. ⸻ 5. Tôi đặc biệt chú ý tới ý kiến của bà Nguyệt Trong biên bản bà ghi khá rõ: * đất sử dụng từ trước năm 2000; * sau khi giao đất năm 2016 gia đình vẫn ở; * không xây dựng mới. Đây là lời khai ngay tại thời điểm lập biên bản. Về giá trị chứng cứ, lời khai này có ý nghĩa vì cho thấy người bị lập biên bản đã trình bày quan điểm của mình ngay từ đầu, chứ không phải đến khi khiếu nại mới nêu. Tuy nhiên, lời khai này vẫn cần được hỗ trợ bằng tài liệu khác (ảnh cũ, nhân chứng, giấy tờ, biên lai, sơ đồ, xác nhận…) để tăng sức thuyết phục. ⸻ 6. Có một điểm pháp lý tôi cho là cần nghiên cứu rất kỹ Quyết định ghi: đất phi nông nghiệp thuộc dự án Vinhomes Green Bay. Trong khi theo trình bày của gia đình: * đây vốn là ruộng, * sử dụng ổn định từ trước năm 1990. Như vậy cần tách hai giai đoạn: Giai đoạn 1 Đất trước năm 2016 là đất gì? Ai quản lý? Gia đình sử dụng từ khi nào? ⸻ Giai đoạn 2 Sau Quyết định giao đất năm 2016: * Nhà nước đã thu hồi phần đất này chưa? * Có phương án bồi thường không? * Có bàn giao thực địa không? * Gia đình có bị cưỡng chế hay vẫn ở nguyên? Đây mới là các câu hỏi pháp lý quan trọng. ⸻ 7. Điểm tôi đánh giá là “yếu” nhất của UBND Tôi thấy hồ sơ hiện nay chưa thể hiện rõ tài liệu chứng minh: * công trình xây năm nào; * ảnh hiện trạng năm 2022; * ai xác định thời điểm xây dựng; * căn cứ nào kết luận diện tích 528,4 m²; * căn cứ nào xác định đây là hành vi của bà Nguyệt. Nếu sau này đưa ra Tòa hành chính thì những nội dung này thường sẽ được xem xét kỹ. ⸻ 8. Nhận xét tổng thể Theo đánh giá sơ bộ của tôi: * Quyết định giao đất 5346/2016 là căn cứ pháp lý về việc giao đất cho doanh nghiệp, nhưng không phải là căn cứ duy nhất để kết luận gia đình lấn chiếm. * Biên bản 1952 có ghi nhận ý kiến phản đối của bà Nguyệt, đây là điểm có lợi về mặt chứng cứ. * Quyết định 2867 lựa chọn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do hết thời hiệu xử phạt, nên tính hợp pháp của quyết định sẽ phụ thuộc nhiều vào việc cơ quan ban hành có chứng minh đầy đủ hành vi vi phạm và chủ thể vi phạm hay không. Từ toàn bộ hồ sơ mà anh đã gửi trong nhiều ngày qua, tôi cho rằng đây là một trong những điểm có giá trị để xây dựng lập luận khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính. Việc lập luận nên tập trung vào các vấn đề: nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của gia đình, tính hợp pháp của việc xác định thời điểm vi phạm, và tính đầy đủ của căn cứ chứng minh hành vi vi phạm, thay vì chỉ tranh luận về việc dự án đã được giao đất hay chưa. Đây sẽ là hướng phân tích có trọng tâm và phù hợp với các tài liệu hiện có.