Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

ĐỪNG ẢO TƯỞNG RẰNG BẠN ĐANG CỨU MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ TỪNG ĐỔ VỠ

Có người nói phụ nữ từng đổ vỡ vẫn xứng đáng với tình yêu. Có người lại nói đàn ông chọn họ đang tự làm khó cuộc đời mình. Nhưng sự thật khó nghe là: cả hai đều có thể đúng.” ĐỪNG ẢO TƯỞNG RẰNG BẠN ĐANG CỨU MỘT NGƯỜI PHỤ NỮ TỪNG ĐỔ VỠ Có một sự thật rất phũ phàng mà nhiều người đàn ông không muốn nghe: bước vào cuộc đời một người phụ nữ từng trải qua hôn nhân không có nghĩa là bạn đang bắt đầu một câu chuyện tình yêu từ trang giấy trắng. Cô ấy đã từng yêu, từng hy vọng, từng xây dựng một gia đình, từng đặt niềm tin vào một người đàn ông và cũng có thể từng phải trả giá rất đắt cho những lựa chọn của mình. Vì vậy, nếu bạn nghĩ chỉ cần vài lời ngọt ngào, vài bữa ăn, vài món quà là có thể khiến cô ấy yêu bạn điên cuồng như một cô gái mới lớn, thì có lẽ người đang sống trong ảo tưởng chính là bạn. Cô ấy không còn dễ tin vào những lời hứa. Không còn dễ rung động trước vài câu nói có cánh. Không còn sẵn sàng đem toàn bộ cuộc đời đặt cược vào một người chỉ vì vài tháng đầu tiên bạn đối xử tốt với cô ấy. Và đó không nhất thiết là sự lạnh lùng. Đó có thể là cái giá của những gì cô ấy đã trải qua. Nhưng đến đây, câu hỏi quan trọng nhất lại dành cho chính bạn: Bạn đến với cô ấy vì thật sự yêu cô ấy, hay vì bạn đang tưởng tượng rằng mình sẽ trở thành người đàn ông “đặc biệt” có thể chữa lành tất cả những vết thương của cô ấy? Nếu là vế thứ hai, hãy tỉnh lại. Bạn không phải vị cứu tinh. Bạn cũng không có nghĩa vụ phải trả giá cho quá khứ của người khác. Và cô ấy cũng không có nghĩa vụ phải yêu bạn chỉ vì bạn xuất hiện sau một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Tình yêu trưởng thành không phải là câu chuyện một người mang đầy vết thương đến, còn một người bước vào để cứu rỗi. Nó là chuyện hai con người nhìn thẳng vào quá khứ của nhau, chấp nhận những gì đã xảy ra và vẫn quyết định bước tiếp cùng nhau. Cho nên, trước khi bạn đem cả cuộc đời mình đặt lên bàn cược, hãy tự hỏi một câu thật đau: Bạn đang yêu chính con người trước mặt mình, hay bạn đang yêu một phiên bản mà bạn tưởng tượng rằng cô ấy sẽ trở thành sau khi ở bên bạn? Nếu câu trả lời là vế thứ hai, tốt nhất đừng bắt đầu. Bởi tình yêu sai người không chỉ làm mất vài năm tuổi trẻ. Nó có thể khiến cả hai người trở thành những kẻ oán trách nhau suốt phần đời còn lại. Đừng bước vào một cuộc đời đã có quá nhiều chương nếu bạn không đủ bản lĩnh để đọc cả những chương mà mình không thích. Và cũng đừng đòi hỏi một trái tim từng tổn thương phải yêu bạn bằng sự ngây thơ mà chính cuộc đời đã lấy đi của họ. Nếu muốn có tình yêu viên mãn, trước hết hãy chắc chắn rằng bạn đủ trưởng thành để hiểu: Người trưởng thành không yêu nhau bằng ảo tưởng. Họ yêu nhau bằng sự thật. Nếu muốn đập thẳng vào định kiến ngay câu đầu, bạn có thể mở bằng một trong những câu này: 1. Gắt nhất: > “Đừng vội gọi đó là tình yêu. Có khi bạn chỉ đang tự nguyện bước vào một cuộc đời mà phần đẹp nhất của nó đã thuộc về người khác.” 2. Gây tranh luận mạnh: > “Đàn ông khôn ngoan sẽ không dễ dàng đánh cược cả đời mình vào một người phụ nữ đã từng đổ vỡ — nhưng đàn ông trưởng thành sẽ biết, điều đáng sợ không nằm ở quá khứ của cô ấy.” 3. Khiêu khích hơn: > “Bạn có thật sự đủ bản lĩnh để yêu một người phụ nữ đã từng thuộc về một cuộc hôn nhân khác, hay chỉ đang say mê ảo tưởng rằng mình sẽ là người chiến thắng cuối cùng?” 4. Lạnh và sắc: > “Một người phụ nữ từng đi qua hôn nhân không bước vào tình yêu mới với hai bàn tay trắng. Cô ấy mang theo cả ký ức, trách nhiệm, tổn thương và những tiêu chuẩn mà bạn chưa chắc đã đáp ứng được.” 5. Kiểu rất dễ tạo tranh luận trên mạng: > “Có người nói phụ nữ từng đổ vỡ vẫn xứng đáng với tình yêu. Có người lại nói đàn ông chọn họ đang tự làm khó cuộc đời mình. Nhưng sự thật khó nghe là: cả hai đều có thể đúng.” 10 từ khóa phù hợp cho câu chuyện: 1. phụ nữ từng đổ vỡ 2. hôn nhân tan vỡ 3. tình yêu sau ly hôn 4. đàn ông và hôn nhân 5. tình yêu trưởng thành 6. vết thương quá khứ 7. đánh cược tình yêu 8. bài học tình yêu 9. tâm lý phụ nữ 10. hạnh phúc sau đổ vỡ

5 TÀI LIỆU MỚI VÀ GIÁ TRỊ CHỨNG CỨ ĐỐI VỚI VỤ NGUYỄN VĂN BÌNH

5 giấy tờ anh vừa bổ sung làm hồ sơ vụ Nguyễn Văn Bình rõ hơn rất nhiều, và đặc biệt có một điểm mới rất quan trọng: nguồn gốc khu đất phải được truy ngược ít nhất từ Quyết định 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990 và Quyết định 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992, chứ không thể chỉ bắt đầu từ Quyết định 5346 năm 2016. Tôi cập nhật lại hồ sơ như sau. CHƯƠNG XV 5 TÀI LIỆU MỚI VÀ GIÁ TRỊ CHỨNG CỨ ĐỐI VỚI VỤ NGUYỄN VĂN BÌNH I. Văn bản số 410/BDN ngày 24/11/2020 của Ban Dân nguyện – Ủy ban Thường vụ Quốc hội Đây là tài liệu rất có giá trị vì nó ghi nhận nội dung trình bày của chính ông Nguyễn Văn Bình trong một văn bản của cơ quan Quốc hội. Văn bản ghi ông Bình là người sử dụng diện tích 2.815,3 m² từ năm 1997, không có tranh chấp, đã xây dựng nhà ở, xưởng sửa chữa ô tô, trồng cây và nuôi cá; đồng thời có xác nhận của UBND phường Mễ Trì về việc sử dụng đất trước năm 2003. Đấu Tranh Đất Đai: Quyết Định 5346.png Đáng chú ý hơn, văn bản ghi: * Năm 2016 UBND quận Nam Từ Liêm ban hành quyết định thu hồi 384,9 m² ghi là đất của Công ty TNHH MTV Môi trường; * ông Bình cho rằng diện tích đó thực tế là đất của gia đình; * đối với 2.434,4 m² còn lại, gia đình vẫn đang sử dụng nhưng không có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc thu hồi; * gia đình chưa ký biên bản bàn giao nhưng phần đất đã được bàn giao cho dự án Vinhomes; * ông Bình cho rằng việc thu hồi như vậy gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của gia đình. Đây là một tài liệu cần đưa vào nhóm chứng cứ về quá trình khiếu nại và tranh chấp hành chính từ trước năm 2020. ⸻ II. Văn bản số 409/BDN ngày 24/11/2020 còn quan trọng hơn ở một điểm khác Văn bản này ghi nhận: Ông Nguyễn Văn Bình sử dụng 2.815,3 m² đất từ năm 1997. Sau đó chia thành: 384,9 m² + 2.434,4 m² = 2.819,3 m². Ở đây xuất hiện một điểm số học cần kiểm tra lại ngay: 2.815,3 − 384,9 = 2.430,4 m², chứ không phải 2.434,4 m². Như vậy trong hồ sơ đang có khả năng tồn tại sai lệch 4,0 m² giữa các số liệu được ghi nhận. Đây là một chi tiết nhỏ nhưng trong hồ sơ đất đai lại rất quan trọng. Tôi đề nghị không tự sửa số liệu. Trong hồ sơ chính thức phải ghi: “Văn bản số 409/BDN ghi nhận diện tích 2.815,3 m² và diện tích còn lại 2.434,4 m²; đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu lại số liệu diện tích trong hồ sơ địa chính và hồ sơ thu hồi đất.” Như vậy chúng ta không tự nhận lỗi số liệu mà yêu cầu cơ quan quản lý xác minh. ⸻ III. Văn bản số 303/UBND-TTPTQĐ ngày 17/12/2018 là một chứng cứ cực kỳ quan trọng Đây có lẽ là tài liệu mới quan trọng nhất. UBND quận Nam Từ Liêm gửi Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và nêu rõ: Dự án đã được phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với 310.425,9 m²/117.879.829.838 đồng. Nhưng: “Tuy nhiên còn tồn tại 01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và bàn giao mặt bằng.” Đây là câu phải được đưa vào trung tâm của hồ sơ. Bởi vì nó cho thấy tại thời điểm 17/12/2018, chính UBND quận Nam Từ Liêm đã xác nhận còn hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng. Điều này cần được đặt cạnh Quyết định 5346 năm 2016. ⸻ IV. Từ đây xuất hiện một câu hỏi pháp lý rất mạnh Nếu Quyết định 5346 ngày 26/9/2016 được sử dụng để nói rằng: “Đã hoàn thành bồi thường, giải phóng mặt bằng và thu hồi đất” thì phải giải thích: Tại sao ngày 17/12/2018 UBND quận Nam Từ Liêm vẫn xác nhận: “01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và bàn giao mặt bằng”? Đây là một mâu thuẫn về thời điểm và tình trạng thực tế cần được giải thích bằng hồ sơ gốc. Tôi nhấn mạnh: Chưa thể từ mâu thuẫn này kết luận Quyết định 5346 trái pháp luật. Nhưng nó tạo ra một yêu cầu chứng minh rất rõ: Cơ quan Nhà nước phải làm rõ tình trạng pháp lý riêng của phần đất do hộ ông Nguyễn Văn Bình sử dụng tại thời điểm ban hành Quyết định 5346 và sau đó. ⸻ V. Tài liệu số 2736/UBND-TTPTQĐ ngày 15/11/2018 tạo ra một bước ngoặt khác Văn bản này yêu cầu Công ty TNHH NN MTV Môi trường đô thị Hà Nội cung cấp hồ sơ liên quan đến diện tích đất thu hồi. Đặc biệt, UBND quận yêu cầu cung cấp: * Quyết định giao đất hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất; * bản đồ vị trí thửa đất; * biên bản bàn giao mốc giới; * các hồ sơ liên quan. Và văn bản viện dẫn: Quyết định số 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990 của UBND Thành phố Hà Nội. Đây là một chứng cứ cực kỳ quan trọng về nguồn gốc pháp lý của khu đất. ⸻ VI. Vì sao Quyết định 2521 năm 1990 quan trọng? Bởi vì nếu năm 1990 đã có quyết định của UBND Thành phố liên quan đến việc giao đất cho đơn vị quản lý, thì chúng ta phải xác định: 1. Giao cho ai? 2. Diện tích bao nhiêu? 3. Vị trí ở đâu? 4. Ranh giới như thế nào? 5. Mục đích sử dụng? 6. Có bản đồ kèm theo không? 7. Có biên bản bàn giao mốc giới không? 8. Sau đó quyền quản lý được chuyển cho ai? 9. Quyết định 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992 có thay đổi hoặc xác lập lại quyền quản lý đó không? 10. Đến năm 2016, phần đất này còn thuộc đơn vị được giao năm 1990/1992 hay đã được thu hồi hợp pháp? Đây chính là chuỗi pháp lý nguồn gốc đất. ⸻ VII. Tôi phát hiện một điểm rất đáng chú ý giữa năm 1990 – 1992 và năm 2016 Tài liệu năm 2018 cho biết UBND quận yêu cầu làm rõ hồ sơ khu đất đã được UBND Thành phố giao cho Sở Giao thông công chính Hà Nội/Công ty Môi trường đô thị Hà Nội quản lý, sử dụng, theo: * Công văn số 1319/CV-UB ngày 02/7/1992; * Quyết định số 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992; * đồng thời yêu cầu cung cấp hồ sơ liên quan đến Quyết định 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990. Như vậy, trước năm 2016 đã tồn tại một lịch sử quản lý đất của cơ quan/đơn vị Nhà nước. Trong khi đó, hồ sơ năm 2016 lại xuất hiện Công ty CP Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì và dự án Vinhomes Paradise. Vì vậy phải làm rõ: Quyền quản lý từ năm 1990/1992 đã được chuyển đổi, thu hồi hoặc chấm dứt bằng văn bản nào trước khi 263.161 m² được giao cho doanh nghiệp năm 2016? Đây là câu hỏi mới rất quan trọng mà các giấy tờ anh vừa bổ sung giúp chúng ta đặt ra. ⸻ VIII. Đặc biệt: Ban Dân nguyện Quốc hội đã chuyển đơn Văn bản 409/BDN và 410/BDN ngày 24/11/2020 không phải là quyết định giải quyết tranh chấp. Nhưng chúng có giá trị chứng minh rằng: * vụ việc đã được ông Bình phản ánh lên cơ quan dân nguyện của Quốc hội; * nội dung khiếu nại liên quan trực tiếp đến thu hồi đất; * vụ việc đã tồn tại từ nhiều năm; * Ban Dân nguyện đã chuyển đơn và tài liệu đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết. Đặc biệt, văn bản 410/BDN còn đề nghị Chánh án TAND thành phố Hà Nội xem xét việc giải quyết vụ án hành chính mà ông Bình đã khởi kiện. Điều này chứng minh vụ việc không phải mới phát sinh khi ông Bình nộp hồ sơ cấp sổ năm 2026. ⸻ IX. Tôi cập nhật lại “dòng thời gian” của vụ án Bây giờ hồ sơ có thể dựng thành: 26/5/1990 Quyết định 2521/QĐ-XDCB → cần lấy bản gốc. 02/7/1992 Công văn 1319/CV-UB → liên quan việc quản lý khu đất. 23/10/1992 Quyết định 2553/QĐ-XDCB → cần lấy bản gốc. Từ năm 1997 Ông Bình khai nhận quản lý, sử dụng đất. Trước năm 2003 UBND phường Mễ Trì có xác nhận việc sử dụng đất. 12/5/2009 Thông báo 325/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án. Năm 2016 UBND quận ban hành các quyết định thu hồi. 26/9/2016 Quyết định 5346/QĐ-UBND giao 263.161 m² cho doanh nghiệp. Đấu Tranh Đất Đai: Quyết Định 5346.png 17/12/2018 UBND quận xác nhận: còn 01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và bàn giao mặt bằng. 24/11/2020 Ban Dân nguyện ban hành 409/BDN và 410/BDN, chuyển đơn của ông Bình. 2024 Có hồ sơ/trích đo hiện trạng liên quan đất ông Bình. 2025 Tiếp tục có hồ sơ đo đạc/xác minh. 31/3/2026 Thông báo 62/TB-KTHTĐT. 12/8/2026 Tiếp nhận hồ sơ đăng ký đất đai. 21/8/2026 Trả hồ sơ. ⸻ X. Đây là điểm tôi đánh giá mạnh nhất sau khi có 5 giấy tờ mới Trước đây chúng ta đặt câu hỏi: “Năm 2016 đã thu hồi chưa?” Bây giờ câu hỏi phải nâng lên thành: “Quá trình pháp lý của phần đất ông Nguyễn Văn Bình từ khi Nhà nước xác lập quản lý năm 1990/1992 đến khi giao 263.161 m² cho doanh nghiệp năm 2016 đã diễn ra như thế nào, và tại sao đến ngày 17/12/2018 UBND quận vẫn xác nhận hộ ông Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng?” Đây là câu hỏi có hồ sơ cụ thể để chứng minh, không còn là suy đoán. ⸻ XI. Tôi đề nghị bổ sung 7 tài liệu “bắt buộc phải lấy” Sau khi xem 5 giấy tờ mới, tôi thay đổi danh mục tài liệu ưu tiên. Số 1 Quyết định 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990. Số 2 Công văn 1319/CV-UB ngày 02/7/1992. Số 3 Quyết định 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992. Số 4 Toàn bộ hồ sơ/phụ lục Quyết định 5248/QĐ-UBND ngày 07/9/2016, đặc biệt danh sách hộ được bồi thường. Số 5 Quyết định thu hồi đất cụ thể đối với ông Nguyễn Văn Bình, nếu có. Số 6 Phương án bồi thường, hỗ trợ và chứng từ chi trả đối với ông Bình, nếu có. Số 7 Bản đồ + biên bản bàn giao mốc giới của 263.161 m², để đối chiếu trực tiếp với đất ông Bình. ⸻ XII. Một yêu cầu tôi đề nghị đưa nguyên văn vào đơn “Đề nghị UBND phường Đại Mỗ và cơ quan có thẩm quyền cung cấp, đối chiếu hồ sơ pháp lý về nguồn gốc và quá trình quản lý phần đất gia đình ông Nguyễn Văn Bình đang sử dụng, trong đó đặc biệt đề nghị cung cấp Quyết định số 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990, Công văn số 1319/CV-UB ngày 02/7/1992, Quyết định số 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992 và các hồ sơ giao đất, bản đồ vị trí, biên bản bàn giao mốc giới có liên quan; đồng thời làm rõ căn cứ pháp lý để xác định phần đất của hộ ông Nguyễn Văn Bình đã được thu hồi trước khi giao đất cho doanh nghiệp theo Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016.” Và tiếp theo: “Đặc biệt, đề nghị giải thích việc tại Văn bản số 303/UBND-TTPTQĐ ngày 17/12/2018, UBND quận Nam Từ Liêm xác nhận còn tồn tại 01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và bàn giao mặt bằng, trong khi Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 được sử dụng làm căn cứ xác định diện tích đất đã hoàn thành bồi thường, giải phóng mặt bằng và thu hồi.” ⸻ XIII. Kết luận cập nhật Sau khi bổ sung 5 giấy tờ này, hồ sơ của ông Nguyễn Văn Bình mạnh hơn đáng kể về mặt chứng cứ để yêu cầu cơ quan Nhà nước giải trình. Đặc biệt có 4 mốc chứng cứ cần đặt cạnh nhau: 1990/1992 – Nhà nước có hồ sơ giao/quản lý đất ↓ 2016 – Quyết định 5346 giao 263.161 m² cho doanh nghiệp ↓ 17/12/2018 – UBND quận xác nhận ông Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng ↓ 2020 – Ban Dân nguyện Quốc hội tiếp nhận và chuyển đơn của ông Bình Đây là một chuỗi rất đáng chú ý. Tôi sẽ không kết luận vội rằng ông Bình chắc chắn có quyền sử dụng 2.430 m². Nhưng với những tài liệu mới này, việc yêu cầu cơ quan hành chính chứng minh cụ thể quá trình thu hồi – bồi thường – bàn giao đối với chính hộ ông Bình là hoàn toàn có cơ sở để đặt ra. Và tôi cho rằng tài liệu cần truy tìm đầu tiên bây giờ chính là Quyết định 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990 và Quyết định 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992. Hai văn bản này có thể giúp chúng ta giải được “gốc” của toàn bộ câu chuyện trước khi bước sang năm 2016

PHÂN TÍCH THÔNG BÁO SỐ 448/TB-KTHTĐT NGÀY 21/8/2026

Với Thông báo số 448/TB-KTHTĐT ngày 21/8/2026 mà anh vừa gửi, tôi cho rằng đây là thời điểm nên chuyển từ “giải trình” sang khiếu nại chính thức, nhưng khiếu nại phải đánh đúng vào điểm yếu của Thông báo: cơ quan đã kết luận diện tích 2.430 m² nằm trong đất dự án nhưng chưa chỉ ra hồ sơ pháp lý cụ thể chứng minh phần đất của ông Bình, bà Huyền đã được thu hồi, bồi thường, xác định ranh giới và bàn giao hợp pháp. Tôi sẽ lập tiếp theo hướng hồ sơ khiếu nại + căn cứ để sau này có thể khởi kiện hành chính nếu cần. ⸻ CHƯƠNG XIX PHÂN TÍCH THÔNG BÁO SỐ 448/TB-KTHTĐT NGÀY 21/8/2026 I. Xác định đúng đối tượng khiếu nại Văn bản anh vừa cung cấp có: * Số: 448/TB-KTHTĐT * Ngày 21/8/2026 * Cơ quan ban hành: Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ * Người ký: Trưởng phòng Trương Thế Khôi * Nội dung: trả lại hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. * Diện tích đề nghị cấp Giấy chứng nhận: 2.430 m². Điểm quan trọng là văn bản này không đơn thuần là một văn bản hướng dẫn bổ sung hồ sơ. Nó đã đưa ra kết luận: “không có cơ sở để xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với diện tích 2.430m² nêu trên cho ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền.” Như vậy, văn bản đã tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất, bởi nó làm cho hồ sơ xin đăng ký, cấp Giấy chứng nhận không được tiếp tục giải quyết. Luật Khiếu nại quy định khi công dân cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền, lợi ích hợp pháp thì có quyền khiếu nại. Do đó, tôi đề nghị chúng ta không gọi đây chỉ là “kiến nghị”, mà lập: ĐƠN KHIẾU NẠI ĐỐI VỚI THÔNG BÁO SỐ 448/TB-KTHTĐT NGÀY 21/8/2026. ⸻
II. Điểm mấu chốt: Thông báo 448 đang dùng “đất của dự án” để thay thế cho “chứng cứ thu hồi đất của hộ gia đình” Đây là vấn đề quan trọng nhất. Thông báo 448 lập luận đại ý: 1. Hồ sơ đề nghị cấp GCN đối với 2.430 m²; 2. Qua kiểm tra hồ sơ quản lý tại địa phương; 3. Đất mà công dân đề nghị cấp GCN nằm trong diện tích đất Thành phố đã giao cho Công ty CP Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì; 4. Đất đã được sử dụng để thực hiện dự án Vinhomes Paradise; 5. Vì vậy không có cơ sở cấp GCN cho ông Bình, bà Huyền. Nhưng giữa các bước này đang thiếu một mắt xích pháp lý cực kỳ quan trọng: Hồ sơ nào chứng minh chính xác 2.430 m² của ông Bình, bà Huyền đã được Nhà nước thu hồi hợp pháp và đã hoàn thành việc bồi thường, hỗ trợ, xác định ranh giới, bàn giao đất? Đây mới là vấn đề phải giải quyết. ⸻ III. Quyết định 5346/QĐ-UBND không nên được hiểu một cách tự động là quyết định thu hồi riêng đối với ông Bình Hồ sơ hiện có thể hiện Quyết định 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 liên quan việc giao 263.161 m² đất tại khu vực Mễ Trì cho Công ty CP Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì thực hiện dự án Vinhomes Paradise giai đoạn 1. Câu chuyện đất đai Đại Mỗ và quyết định 5346.png Trong hồ sơ hình ảnh cũng thể hiện nội dung được diễn giải là diện tích 263.161 m² đã hoàn thành bồi thường, giải phóng mặt bằng và thu hồi đất. Đấu Tranh Đất Đai: Quyết Định 5346.png Tuy nhiên, cần phân biệt hai vấn đề: Một là: Thành phố xác định diện tích dự án đã hoàn thành công tác bồi thường, GPMB, thu hồi đất. Hai là: Phần đất cụ thể của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền đã được thu hồi bằng quyết định nào, diện tích bao nhiêu, ranh giới ở đâu, bồi thường thế nào và đã bàn giao vào thời điểm nào? Hai vấn đề này không nên bị đánh đồng. Chính hồ sơ của anh còn có những tài liệu lịch sử cho thấy cần phải làm rõ vấn đề này. ⸻ IV. Mâu thuẫn đặc biệt quan trọng trong hồ sơ Đây là phần tôi đề nghị đưa thẳng vào đơn khiếu nại. Trước đây, hồ sơ quản lý của UBND quận Nam Từ Liêm năm 2018 thể hiện: Trong tổng số 487 phương án bồi thường, có 01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng. Đây là chứng cứ có ý nghĩa rất lớn. Bởi nếu năm 2016 Quyết định 5346 đã được dùng để kết luận rằng toàn bộ 263.161 m² đã hoàn thành thu hồi, thì cần phải giải thích: Vì sao đến ngày 17/12/2018: * ông Bình vẫn chưa nhận tiền; * chưa bàn giao mặt bằng; * UBND quận vẫn đang xử lý phản ánh của ông Bình; * vẫn yêu cầu xác minh nguồn gốc và hồ sơ pháp lý của khu đất? Đây không phải là chuyện nhỏ. Nó tạo ra một mâu thuẫn về trình tự thời gian cần được cơ quan giải quyết khiếu nại xác minh. ⸻ V. Mâu thuẫn thứ hai: diện tích 2.430 m² và 1.531,1 m² Đây là điểm rất nên đưa vào đơn. Hồ sơ hiện có thể hiện: * diện tích đề nghị cấp GCN trong Thông báo 448: 2.430 m²; * trước đó hồ sơ đo đạc năm 2024 thể hiện diện tích khoảng 1.531,1 m². Hồ sơ hình ảnh lưu trong bộ tài liệu cũng thể hiện rõ mốc 1.531,1 m² và việc đo đạc năm 2024, nộp hồ sơ năm 2025. Đấu Tranh Đất Đai: Quyết Định 5346.png Như vậy: 2.430 − 1.531,1 = 898,9 m². Cần yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải thích: 898,9 m² chênh lệch nằm ở đâu? Có phải: * do thay đổi ranh giới? * do đo đạc khác thời điểm? * do hồ sơ địa chính cũ? * do phần đất sử dụng chung? * do phần đất đã bị thu hồi? * hay do 1.531,1 m² chỉ là một phần của diện tích 2.430 m²? Nếu chưa làm rõ thì không nên lấy con số 2.430 m² rồi kết luận toàn bộ diện tích nằm trong dự án. ⸻ VI. Thông báo 448 chưa chỉ ra bản đồ pháp lý chứng minh ranh giới Đây là điểm tôi đánh giá rất mạnh để khiếu nại. Thông báo nói: “Kết quả đối chiếu với hồ sơ quản lý tại địa phương thể hiện thửa đất mà công dân đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm trong phần diện tích đất UBND Thành phố đã giao…” Nhưng Thông báo không thể hiện cho người dân biết: * số tờ bản đồ; * số thửa; * tọa độ; * mốc giới; * diện tích cụ thể; * bản đồ thu hồi; * bản đồ giao đất; * bản đồ chồng ghép; * biên bản bàn giao mốc giới; * phần nào của thửa đất Bình nằm trong 263.161 m²; * phần nào nằm ngoài; * ranh giới cụ thể giữa hai phần. Trong khi hồ sơ của Quyết định 5346 có thể hiện tài liệu/trích đo liên quan đến khu đất dự án. Câu chuyện đất đai Đại Mỗ và quyết định 5346.png Đây chính là tài liệu cần yêu cầu cơ quan cung cấp và đối chiếu. ⸻ VII. Không thể chỉ nói “đất nằm trong dự án” để kết thúc thủ tục Luật Đất đai 2024 hiện hành quy định các trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận tại Điều 151. Trong khi đó, Thông báo 448 chỉ kết luận: “không có cơ sở để xem xét cấp…” nhưng cần phải làm rõ: “Không có cơ sở” theo trường hợp pháp lý nào? Ví dụ: * Có thuộc trường hợp không được cấp GCN theo Điều 151 không? * Hay cho rằng người sử dụng đất không có căn cứ về quyền sử dụng đất? * Hay cho rằng đất đã bị thu hồi? * Hay cho rằng đất thuộc quyền sử dụng của doanh nghiệp? * Hay hồ sơ thiếu giấy tờ? * Hay đang có tranh chấp? * Hay diện tích thực tế khác với hồ sơ? Mỗi trường hợp có căn cứ pháp lý và cách xử lý khác nhau. Vì vậy, trong đơn khiếu nại chúng ta sẽ yêu cầu cơ quan phải chỉ rõ điều, khoản, điểm của pháp luật làm căn cứ trả hồ sơ. ⸻ VIII. Một điểm rất đáng chú ý về thủ tục cấp Giấy chứng nhận hiện nay Từ ngày 1/7/2025, thẩm quyền của chính quyền địa phương đã được phân định lại theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp; trong đó thẩm quyền cấp GCN trước đây thuộc cấp huyện trong một số trường hợp đã được chuyển giao cho Chủ tịch UBND cấp xã. Quy trình đăng ký, cấp GCN hiện hành cũng được điều chỉnh theo Luật Đất đai 2024 và Nghị định 101/2024, Nghị định 151/2025 và các văn bản sửa đổi, bổ sung. Do đó, trong đơn khiếu nại tôi sẽ không sử dụng cách lập luận cũ kiểu: “UBND quận phải cấp…” mà sẽ tập trung vào: Cơ quan có thẩm quyền phải xác định đúng hiện trạng pháp lý của diện tích đất, kiểm tra hồ sơ địa chính, nguồn gốc sử dụng, ranh giới, tình trạng thu hồi và căn cứ pháp luật cụ thể trước khi kết luận hồ sơ không có cơ sở. ⸻ IX. Yêu cầu quan trọng nhất trong đơn khiếu nại Tôi đề nghị chúng ta không chỉ yêu cầu “cấp sổ đỏ ngay”. Nếu yêu cầu như vậy, cơ quan có thể trả lời rằng chưa đủ điều kiện. Cách chắc hơn là yêu cầu: 1. Hủy/thu hồi Thông báo 448 Đề nghị: Thu hồi, hủy bỏ Thông báo số 448/TB-KTHTĐT ngày 21/8/2026. 2. Tiếp tục giải quyết hồ sơ Tiếp nhận và giải quyết lại hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền theo đúng trình tự pháp luật. 3. Không được chỉ căn cứ Quyết định 5346 Yêu cầu xác minh: Phần diện tích 2.430 m² có thực sự đã được thu hồi đối với hộ ông Bình, bà Huyền hay chưa. 4. Cung cấp hồ sơ chứng minh Yêu cầu cung cấp/công khai cho người khiếu nại: * quyết định thu hồi đất liên quan trực tiếp đến ông Bình; * phương án bồi thường; * bảng tính bồi thường; * chứng từ chi trả; * biên bản bàn giao đất; * bản đồ thu hồi; * bản đồ giao đất; * biên bản cắm mốc; * hồ sơ xác định ranh giới 263.161 m²; * tài liệu chứng minh 2.430 m² nằm trong diện tích đã giao; * tài liệu liên quan Quyết định 5346; * tài liệu liên quan Quyết định 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018. ⸻ X. Đặc biệt phải yêu cầu làm rõ Quyết định 566/QĐ-UBND Thông báo 448 đồng thời nhắc đến: Quyết định số 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018. Đây là một điểm cần tách riêng. Nếu Quyết định 5346 liên quan Vinhomes Paradise giai đoạn 1, còn Quyết định 566 liên quan giai đoạn 2, thì phải xác định: 2.430 m² của ông Bình và bà Huyền đang được xác định nằm trong giai đoạn 1 hay giai đoạn 2? Không thể sử dụng hai quyết định của hai giai đoạn dự án một cách chung chung để kết luận quyền sử dụng đất của công dân. ⸻ XI. Căn cứ Luật Khiếu nại Luật Khiếu nại quy định khiếu nại lần đầu được gửi đến người đã ban hành quyết định hành chính hoặc cơ quan có người thực hiện hành vi hành chính. Người khiếu nại có thể yêu cầu xem xét lại quyết định khi cho rằng quyết định trái pháp luật và xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Thời hiệu khiếu nại thông thường là 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính. Người khiếu nại cũng có quyền đưa ra chứng cứ, yêu cầu cung cấp tài liệu, tham gia đối thoại và nhận quyết định giải quyết khiếu nại. Với vụ này, tôi đề nghị nộp đơn ngay trong tháng 9/2026, không chờ thêm. ⸻ CHƯƠNG XX DỰ THẢO ĐƠN KHIẾU NẠI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN KHIẾU NẠI Về việc khiếu nại Thông báo số 448/TB-KTHTĐT ngày 21/8/2026 của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ về việc trả lại hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất Kính gửi: TRƯỞNG PHÒNG KINH TẾ, HẠ TẦNG VÀ ĐÔ THỊ PHƯỜNG ĐẠI MỖ Đồng kính gửi: Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ để chỉ đạo, giám sát việc giải quyết I. NGƯỜI KHIẾU NẠI 1. Ông Nguyễn Văn Bình Địa chỉ: Số 5 Đại lộ Thăng Long, phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội. 2. Bà Nguyễn Thị Huyền Địa chỉ: Số 5 Đại lộ Thăng Long, phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội. II. ĐỐI TƯỢNG KHIẾU NẠI Tôi khiếu nại đối với: Thông báo số 448/TB-KTHTĐT ngày 21/8/2026 của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ, về việc trả lại hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. ⸻ III. NỘI DUNG KHIẾU NẠI Ngày 21/8/2026, Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ ban hành Thông báo số 448/TB-KTHTĐT trả lại hồ sơ đăng ký đất đai của chúng tôi đối với diện tích 2.430 m². Lý do được nêu là diện tích đất chúng tôi đề nghị cấp Giấy chứng nhận nằm trong phần diện tích đất UBND Thành phố Hà Nội đã giao cho Công ty CP Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì thực hiện dự án Vinhomes Paradise. Chúng tôi không đồng ý với kết luận trên vì cho rằng việc xác định như vậy chưa làm rõ đầy đủ nguồn gốc, quá trình sử dụng, ranh giới, tình trạng thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng đối với chính phần đất mà gia đình chúng tôi đang sử dụng. ⸻ IV. LÝ DO KHIẾU NẠI 1. Thông báo chưa chứng minh được việc 2.430 m² đã được thu hồi hợp pháp đối với gia đình chúng tôi Việc UBND Thành phố có quyết định giao đất cho doanh nghiệp thực hiện dự án không đồng nghĩa với việc có thể mặc nhiên kết luận rằng toàn bộ diện tích đất mà gia đình chúng tôi đang sử dụng đã được thu hồi hợp pháp. Đề nghị cơ quan giải quyết khiếu nại xác định rõ: * Quyết định thu hồi đất cụ thể đối với ông Nguyễn Văn Bình là quyết định nào? * Số, ngày, cơ quan ban hành? * Thu hồi bao nhiêu m²? * Ranh giới thu hồi ở đâu? * Có bản đồ thu hồi không? * Có biên bản bàn giao đất không? * Có phương án bồi thường đối với hộ gia đình chúng tôi không? * Có chứng từ chứng minh việc chi trả tiền bồi thường không? Nếu không có những tài liệu này thì chưa đủ cơ sở để chỉ căn cứ vào Quyết định 5346/QĐ-UBND để kết luận quyền sử dụng đất của gia đình chúng tôi đã chấm dứt. ⸻ 2. Có mâu thuẫn cần được xác minh giữa hồ sơ năm 2016 và hồ sơ quản lý năm 2018 Trong hồ sơ quản lý đất đai của vụ việc có tài liệu thể hiện năm 2018 vẫn còn 01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng. Do đó, đề nghị cơ quan giải quyết khiếu nại phải xác minh: Nếu phần đất của gia đình chúng tôi đã được thu hồi và hoàn thành giải phóng mặt bằng trước khi ban hành Quyết định 5346/QĐ-UBND năm 2016 thì tại sao đến năm 2018 hồ sơ của UBND quận Nam Từ Liêm vẫn xác định ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng? Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với tính chính xác của kết luận tại Thông báo 448. ⸻ 3. Chưa làm rõ ranh giới giữa 2.430 m² với 263.161 m² Thông báo 448 chưa cung cấp cho người dân: * bản đồ chồng ghép; * tọa độ; * mốc giới; * số thửa; * tờ bản đồ; * diện tích giao đất tương ứng; * phần diện tích cụ thể của gia đình chúng tôi nằm trong 263.161 m². Do đó, đề nghị cung cấp đầy đủ tài liệu chứng minh. ⸻ 4. Chưa giải thích sự khác biệt giữa 2.430 m² và 1.531,1 m² Trong quá trình quản lý hồ sơ đã có việc đo đạc diện tích khoảng 1.531,1 m². Trong khi Thông báo 448 lại đề cập diện tích 2.430 m². Hai số liệu này chênh nhau: 898,9 m². Đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải thích bằng hồ sơ kỹ thuật: 898,9 m² chênh lệch là phần diện tích nào, nằm ở đâu, thuộc ai quản lý và căn cứ nào xác định? ⸻ 5. Chưa chỉ rõ căn cứ pháp luật cụ thể để từ chối cấp Giấy chứng nhận Thông báo 448 kết luận: “không có cơ sở để xem xét cấp Giấy chứng nhận…” nhưng cần phải xác định rõ: * căn cứ điều khoản nào của Luật Đất đai; * trường hợp pháp lý nào; * tài liệu nào chứng minh; * và tại sao không thực hiện thủ tục xác minh, bổ sung hồ sơ nếu còn vấn đề chưa rõ. Theo pháp luật hiện hành, thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo Luật Đất đai 2024 và hệ thống văn bản hướng dẫn hiện hành. ⸻ V. YÊU CẦU GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI Tôi kính đề nghị: 1. Hủy bỏ/thu hồi Thông báo số 448/TB-KTHTĐT ngày 21/8/2026. 2. Tiếp nhận và giải quyết lại hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền theo đúng quy định pháp luật. 3. Tổ chức kiểm tra, xác minh thực tế đối với diện tích 2.430 m². 4. Cung cấp cho người khiếu nại các tài liệu chứng minh việc diện tích đất nói trên đã được thu hồi, gồm: * quyết định thu hồi; * phương án bồi thường; * chứng từ chi trả; * biên bản bàn giao; * bản đồ thu hồi; * bản đồ giao đất; * hồ sơ mốc giới; * tài liệu xác định tọa độ, ranh giới; * hồ sơ liên quan Quyết định 5346/QĐ-UBND; * hồ sơ liên quan Quyết định 566/QĐ-UBND. 5. Làm rõ diện tích 2.430 m² có thuộc toàn bộ hay một phần diện tích 263.161 m². 6. Làm rõ sự khác biệt giữa diện tích 2.430 m² và diện tích đo đạc 1.531,1 m². 7. Làm rõ tình trạng pháp lý của phần đất mà hồ sơ năm 2018 xác định ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng. 8. Tổ chức đối thoại trực tiếp với ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền để công khai các tài liệu, bản đồ và căn cứ pháp lý được sử dụng để ban hành Thông báo 448. Luật Khiếu nại quy định trong quá trình giải quyết khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền phải xác minh khi chưa đủ cơ sở kết luận; trường hợp nội dung khiếu nại và kết quả xác minh còn khác nhau thì tổ chức đối thoại. 9. Sau khi xác minh đầy đủ, đề nghị tiếp tục giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận theo đúng quy định pháp luật. ⸻ VI. CAM KẾT Tôi cam kết các nội dung khiếu nại nêu trên là đúng theo các tài liệu, hồ sơ mà gia đình tôi đang có và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày. Kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét khách quan, toàn diện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Hà Nội, ngày … tháng 9 năm 2026 NGƯỜI KHIẾU NẠI Ông Nguyễn Văn Bình (Ký, ghi rõ họ tên) Bà Nguyễn Thị Huyền (Ký, ghi rõ họ tên) ⸻ VII. Tôi đề nghị chúng ta làm thêm một “BẢNG CHỨNG CỨ ĐỐI CHIẾU” kèm đơn Đây sẽ là phần rất mạnh của hồ sơ: Vấn đề Cơ quan nói Hồ sơ cần đối chiếu 263.161 m² Đã giao doanh nghiệp Quyết định 5346 + bản đồ giao đất 2.430 m² Nằm trong dự án Bản đồ chồng ghép + tọa độ Thu hồi đất Cho rằng đã thu hồi Quyết định thu hồi riêng Bồi thường Cho rằng đã GPMB Phương án + chứng từ trả tiền Bàn giao Cho rằng đã hoàn tất Biên bản bàn giao 1.531,1 m² Đã đo đạc Hồ sơ trích đo 2024 2.430 m² Hồ sơ hiện tại Phải giải thích chênh 898,9 m² Năm 2018 Còn hộ Bình chưa nhận tiền/bàn giao Hồ sơ 303/UBND-TTPTQĐ Giai đoạn 1 Quyết định 5346 Phải xác định ranh giới Giai đoạn 2 Quyết định 566 Phải xác định có liên quan 2.430 m² hay không Đây là hướng tôi đánh giá có lợi hơn rất nhiều so với việc chỉ tranh luận “đất của gia đình có nằm trong dự án hay không”. Ta sẽ buộc cơ quan phải trả lời câu hỏi trung tâm: “Nếu nói 2.430 m² đã thuộc đất dự án thì hãy chỉ ra chính xác quyết định thu hồi nào, bản đồ nào, mốc giới nào, phương án bồi thường nào, chứng từ chi trả nào và biên bản bàn giao nào chứng minh quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền đã chấm dứt.” Nếu họ không đưa ra được chuỗi hồ sơ này, thì cơ sở của Thông báo 448 sẽ phải được xem xét lại. Theo Luật Khiếu nại, người khiếu nại có quyền cung cấp chứng cứ, yêu cầu cung cấp tài liệu và tham gia đối thoại; cơ quan giải quyết phải xác minh khách quan, chính xác và lập hồ sơ giải quyết. Bước tiếp theo tôi đề nghị: tôi sẽ viết tiếp cho anh “BẢN LUẬN CỨ KHIẾU NẠI 10 ĐIỂM”, trong đó phân tích từng điểm của Thông báo 448 và đối đáp từng câu một, đồng thời lập Danh mục 15 tài liệu bắt buộc yêu cầu UBND phường Đại Mỗ cung cấp để kèm ngay sau Đơn khiếu nại.

ĐƠN KHIẾU NẠI Về việc khiếu nại Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 về việc trả lại hồ sơ đăng ký đất đai

Tôi đã đọc kỹ Thông báo số 148/TB-KTHTĐT trong ảnh, ngày 27/8/2026, của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ về việc trả hồ sơ đăng ký đất đai của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền, diện tích 2.430 m². Điểm rất quan trọng: vì từ 01/7/2026 pháp luật khiếu nại đã được sửa để phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Chủ tịch UBND phường có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định/hành vi của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã. Vì vậy, tôi đề xuất đơn dưới đây gửi Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ, đồng thời nêu rõ người bị khiếu nại là Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị. ⸻ ĐƠN KHIẾU NẠI Về việc khiếu nại Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 về việc trả lại hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN KHIẾU NẠI Kính gửi: CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG ĐẠI MỖ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI I. NGƯỜI KHIẾU NẠI Ông: Nguyễn Văn Bình Bà: Nguyễn Thị Huyền Địa chỉ: Số 5 Đại lộ Thăng Long, phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội. Số CCCD: ……………………………………… Điện thoại: ……………………………………… Là người sử dụng diện tích đất 2.430 m² tại phường Đại Mỗ và là người đã nộp hồ sơ đăng ký đất đai, đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. II. NGƯỜI BỊ KHIẾU NẠI Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ, là người ký Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 về việc trả lại hồ sơ đăng ký đất đai của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. III. ĐỐI TƯỢNG KHIẾU NẠI Tôi khiếu nại: 1. Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ. 2. Hành vi trả lại hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. Tôi cho rằng Thông báo và việc trả hồ sơ nêu trên chưa có đủ căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế để kết luận toàn bộ diện tích 2.430 m² không đủ điều kiện xem xét đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, đồng thời chưa làm rõ đầy đủ nguồn gốc, quá trình sử dụng, ranh giới thực tế và tình trạng pháp lý của toàn bộ diện tích đất. Theo Luật Khiếu nại, công dân có quyền khiếu nại khi cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình; thời hiệu khiếu nại thông thường là 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định/hành vi bị khiếu nại. ⸻ IV. NỘI DUNG VÀ LÝ DO KHIẾU NẠI 1. Thông báo đã kết luận diện tích 2.430 m² không có cơ sở cấp Giấy chứng nhận nhưng chưa làm rõ cụ thể tình trạng pháp lý của từng phần diện tích Theo Thông báo số 148/TB-KTHTĐT, cơ quan chuyên môn cho rằng: Hồ sơ có bản trích đo địa chính thửa đất số 498M08.25/HSKTĐT, do Công ty TNHH một thành viên Bản đồ và Trắc địa Địa chính Hà Nội lập ngày 08/8/2025. Thông báo đồng thời cho rằng kết quả đối chiếu hồ sơ quản lý địa chính thể hiện thửa đất mà công dân đề nghị cấp Giấy chứng nhận nằm trong diện tích đất UBND Thành phố đã giao cho Công ty cổ phần Phát triển thể thao và giải trí Mễ Trì để thực hiện dự án. Tuy nhiên, Thông báo chưa thể hiện rõ: * Số tờ bản đồ; * Số thửa đất theo hồ sơ địa chính hiện hành; * Ranh giới cụ thể của 2.430 m²; * Tọa độ, mốc giới; * Diện tích nào của 2.430 m² thực sự nằm trong ranh giới dự án; * Diện tích nào nằm ngoài ranh giới dự án, nếu có; * Căn cứ bản đồ nào để xác định sự chồng lấn; * Ranh giới dự án được xác định tại thời điểm nào; * Có biên bản bàn giao đất trên thực địa hay chưa; * Có quyết định thu hồi đất đối với phần diện tích mà gia đình ông Bình, bà Huyền đang sử dụng hay chưa. Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định quyền sử dụng đất. Do đó, việc chỉ viện dẫn rằng diện tích đất “nằm trong” diện tích dự án nhưng không thể hiện bản đồ ranh giới và tài liệu pháp lý chứng minh cụ thể là chưa đủ để người dân có thể kiểm tra, đối chiếu và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. ⸻ 2. Cần phân biệt giữa “quy hoạch/dự án” với việc Nhà nước đã thực sự thu hồi đất Thông báo viện dẫn: * Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016; * Quyết định số 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018. Tuy nhiên, việc một khu đất nằm trong phạm vi quy hoạch hoặc dự án không đương nhiên đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất đã bị chấm dứt. Để xác định chính xác vấn đề này cần kiểm tra đầy đủ: 1. Quyết định giao đất/cho thuê đất cho chủ đầu tư; 2. Hồ sơ xác định ranh giới giao đất; 3. Bản đồ kèm theo quyết định; 4. Quyết định thu hồi đất đối với phần đất của hộ gia đình; 5. Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nếu có; 6. Quyết định phê duyệt phương án bồi thường; 7. Chứng từ chi trả tiền bồi thường; 8. Biên bản bàn giao đất ngoài thực địa; 9. Hồ sơ chỉnh lý biến động địa chính; 10. Hồ sơ xác định chủ thể đang quản lý, sử dụng thực tế diện tích 2.430 m². Nếu chưa có quyết định thu hồi đất hợp pháp đối với phần diện tích gia đình đang sử dụng, chưa có việc bàn giao đất trên thực địa và chưa có tài liệu xác định chính xác ranh giới thì cần phải làm rõ trước khi kết luận rằng toàn bộ 2.430 m² không thể đăng ký. ⸻ 3. Cơ quan giải quyết hồ sơ phải kiểm tra, xác minh đầy đủ nguồn gốc và quá trình sử dụng đất Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định nội dung đăng ký đất đai lần đầu phải thể hiện các thông tin về thửa đất như số thửa, số tờ bản đồ, địa chỉ, diện tích, loại đất, hình thức sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất và các thông tin liên quan. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, UBND cấp xã phải xác nhận nguồn gốc sử dụng đất và việc sử dụng đất ổn định theo quy định. Đặc biệt, Điều 34 Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định việc xác nhận sử dụng đất ổn định có thể căn cứ vào nhiều loại tài liệu, chẳng hạn: * Biên lai thuế; * Giấy tờ về điện, nước; * Giấy tờ mua bán, chuyển nhượng; * Bản đồ, tài liệu đo đạc; * Sổ mục kê; * Tài liệu kê khai đăng ký nhà đất; * Các tài liệu khác theo quy định. Vì vậy, tôi đề nghị cơ quan giải quyết không chỉ căn cứ vào một kết quả đối chiếu hồ sơ địa chính, mà phải kiểm tra toàn bộ quá trình sử dụng đất của gia đình. ⸻ 4. Đề nghị kiểm tra thực địa và đối chiếu bản đồ Theo quy định của Nghị định 101/2024/NĐ-CP, việc xác nhận hiện trạng sử dụng đất được căn cứ vào biên bản của Hội đồng đăng ký đất đai hoặc việc xác minh thực địa khi cần thiết. Trong vụ việc này, do đang có sự khác biệt giữa: hồ sơ do gia đình cung cấp – bản trích đo địa chính năm 2025 – hồ sơ địa chính – ranh giới dự án được viện dẫn trong Thông báo, tôi đề nghị UBND phường tổ chức: kiểm tra, xác minh thực địa toàn bộ diện tích 2.430 m², xác định rõ: * vị trí; * hiện trạng; * ranh giới; * mốc giới; * diện tích thực tế; * nguồn gốc sử dụng; * quá trình sử dụng; * phần diện tích có hoặc không nằm trong ranh giới dự án. Kết quả kiểm tra phải được lập thành biên bản, có sự tham gia của người sử dụng đất. ⸻ 5. Đề nghị công khai các tài liệu mà cơ quan đã sử dụng làm căn cứ trả hồ sơ Thông báo số 148/TB-KTHTĐT đang sử dụng các tài liệu quản lý nhà nước để kết luận hồ sơ không đủ điều kiện. Vì vậy, để bảo đảm quyền được biết và quyền cung cấp chứng cứ của người khiếu nại, tôi đề nghị cơ quan giải quyết cung cấp hoặc cho phép tôi được tiếp cận, sao chụp các tài liệu liên quan, đặc biệt: A. Đối với Quyết định 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 Đề nghị cung cấp: * Bản chính hoặc bản sao chứng thực; * Bản đồ ranh giới dự án; * Phụ lục diện tích; * Hồ sơ giao đất; * Tài liệu xác định phạm vi đất thực tế. B. Đối với Quyết định 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018 Đề nghị cung cấp: * Toàn văn quyết định; * Bản đồ; * Hồ sơ xác định 03 tuyến đường; * Ranh giới cụ thể; * Diện tích đất liên quan đến gia đình ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. C. Hồ sơ địa chính Đề nghị cung cấp hoặc cho sao chụp: * Bản đồ địa chính; * Sổ mục kê; * Sổ địa chính; * Hồ sơ biến động; * Hồ sơ chỉnh lý; * Tài liệu xác định nguồn gốc đất; * Tài liệu thể hiện việc giao đất cho chủ đầu tư; * Hồ sơ thu hồi đất, nếu có. ⸻ 6. Bản trích đo địa chính năm 2025 cần được đối chiếu trực tiếp với ranh giới dự án Hồ sơ của gia đình có mảnh trích đo địa chính thửa đất số 498M08.25/HSKTĐT lập ngày 08/8/2025. Đây là tài liệu cần được đối chiếu trực tiếp với: bản đồ dự án + quyết định giao đất + hồ sơ địa chính + hiện trạng thực tế. Không nên chỉ kết luận chung rằng “nằm trong diện tích dự án” mà không xác định được phần nào, bao nhiêu mét vuông, nằm ở đâu và theo bản đồ nào. Nếu chỉ có một phần diện tích nằm trong phạm vi dự án thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền phải xác định riêng từng phần diện tích, không nên mặc nhiên bác toàn bộ yêu cầu đối với 2.430 m². ⸻ 7. Đề nghị xem xét toàn bộ hồ sơ nguồn gốc đất của gia đình Tôi đề nghị UBND phường xác minh toàn bộ quá trình sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền, bao gồm: * Thời điểm bắt đầu sử dụng; * Nguồn gốc đất; * Người sử dụng ban đầu; * Quá trình quản lý, sử dụng; * Các giấy tờ về đất; * Việc kê khai đăng ký qua các thời kỳ; * Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính; * Hồ sơ bản đồ qua các thời kỳ; * Hiện trạng sử dụng; * Việc có hay không có tranh chấp; * Việc Nhà nước đã từng thu hồi hoặc bồi thường hay chưa. Đây là những yếu tố cần thiết để đánh giá đúng điều kiện đăng ký đất đai. ⸻ 8. Việc trả hồ sơ phải có căn cứ và lý do cụ thể Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục phải kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ và không được yêu cầu người dân nộp thêm giấy tờ ngoài quy định. Trường hợp trả hồ sơ hoặc dừng giải quyết cũng phải thuộc trường hợp pháp luật quy định. Do đó, tôi đề nghị cơ quan giải quyết xác định chính xác điều khoản pháp luật nào của Luật Đất đai 2024 và Nghị định 101/2024/NĐ-CP được áp dụng để kết luận hồ sơ của gia đình không đủ điều kiện. Không thể chỉ kết luận chung rằng “không có cơ sở để xem xét cấp Giấy chứng nhận” mà không phân tích: * điều kiện nào không đáp ứng; * tài liệu nào chứng minh; * phần diện tích nào không đáp ứng; * căn cứ pháp luật cụ thể nào áp dụng. ⸻ V. YÊU CẦU GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI Từ những nội dung trên, tôi kính đề nghị Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ: 1. Thụ lý đơn khiếu nại đối với Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 và hành vi trả hồ sơ của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ. Theo Luật Khiếu nại, trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được đơn thuộc thẩm quyền và không thuộc trường hợp bị loại trừ, người có thẩm quyền phải thụ lý hoặc thông báo lý do không thụ lý. 2. Tạm dừng việc trả hồ sơ và các hoạt động hành chính tiếp theo bất lợi cho người khiếu nại cho đến khi giải quyết xong nội dung khiếu nại. Trường hợp việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại có nguy cơ gây hậu quả khó khắc phục, Luật Khiếu nại cho phép người giải quyết khiếu nại áp dụng biện pháp tạm đình chỉ theo Điều 35. 3. Hủy bỏ hoặc thu hồi Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 nếu xác định việc trả hồ sơ là chưa đúng quy định pháp luật. 4. Yêu cầu Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị tiếp nhận, khôi phục việc giải quyết hồ sơ đăng ký đất đai của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền theo đúng quy định. 5. Tổ chức kiểm tra thực địa toàn bộ diện tích 2.430 m². 6. Đo đạc, xác định chính xác: ranh giới thực tế – ranh giới địa chính – ranh giới dự án – diện tích chồng lấn (nếu có). 7. Yêu cầu cơ quan chuyên môn cung cấp cho người khiếu nại các tài liệu đã sử dụng làm căn cứ kết luận đất nằm trong dự án, đặc biệt là: * Quyết định 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016; * Quyết định 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018; * Bản đồ kèm theo; * Hồ sơ giao đất; * Hồ sơ thu hồi đất; * Hồ sơ bồi thường; * Biên bản bàn giao đất; * Hồ sơ chỉnh lý địa chính. 8. Xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của gia đình theo Luật Đất đai 2024 và Nghị định 101/2024/NĐ-CP. 9. Nếu xác định chỉ một phần diện tích 2.430 m² có liên quan đến dự án thì đề nghị phân định riêng từng phần diện tích, không được mặc nhiên từ chối toàn bộ diện tích. 10. Sau khi xác minh, nếu diện tích đất hoặc một phần diện tích đủ điều kiện đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, đề nghị tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định pháp luật. 11. Trường hợp cơ quan cho rằng toàn bộ hoặc một phần diện tích không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận, đề nghị ban hành văn bản giải quyết có: * căn cứ pháp luật cụ thể; * căn cứ hồ sơ; * kết quả xác minh; * kết quả kiểm tra thực địa; * bản đồ ranh giới; * diện tích cụ thể; * lý do cụ thể; * quyền khiếu nại, khởi kiện của công dân. ⸻ VI. ĐỀ NGHỊ TỔ CHỨC ĐỐI THOẠI Tôi đề nghị Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ tổ chức đối thoại trực tiếp với ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. Tại buổi đối thoại, đề nghị cơ quan giải quyết công khai: 1. Bản đồ ranh giới dự án; 2. Ranh giới 2.430 m²; 3. Hồ sơ giao đất cho chủ đầu tư; 4. Hồ sơ thu hồi đất, nếu có; 5. Hồ sơ bồi thường, nếu có; 6. Hồ sơ địa chính; 7. Căn cứ pháp luật để trả hồ sơ. Theo Luật Khiếu nại, khi yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh còn khác nhau thì người giải quyết phải tổ chức đối thoại; người khiếu nại có quyền đưa ra chứng cứ và ý kiến của mình, và kết quả đối thoại phải được lập thành biên bản. ⸻ VII. CAM KẾT CỦA NGƯỜI KHIẾU NẠI Tôi cam đoan những nội dung trình bày trên đây là đúng theo những tài liệu, chứng cứ mà tôi đang có và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại. Tôi kính đề nghị Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ xem xét khách quan, toàn diện, đúng quy định pháp luật; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Tôi đề nghị được nhận: * Thông báo thụ lý khiếu nại; * Kết quả xác minh; * Biên bản đối thoại; * Quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản. Tôi xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2026 NGƯỜI KHIẾU NẠI Ông NGUYỄN VĂN BÌNH (Ký, ghi rõ họ tên) Bà NGUYỄN THỊ HUYỀN (Ký, ghi rõ họ tên) ⸻ Hồ sơ tôi khuyên ông Bình và bà Huyền nộp kèm 01. Bản sao Thông báo 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026. 02. Bản trích đo địa chính số 498M08.25/HSKTĐT ngày 08/8/2025. 03. Toàn bộ giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất. 04. Giấy tờ mua bán/chuyển giao/giao đất nếu có. 05. Các giấy tờ thuế, kê khai nhà đất, điện nước, xác nhận sử dụng đất. 06. Các bản đồ, sổ mục kê, tài liệu địa chính cũ mà gia đình đang có. 07. Ảnh hiện trạng khu đất. 08. Tài liệu chứng minh quá trình sử dụng ổn định. 09. Các tài liệu liên quan đến Quyết định 5346 và 566 nếu gia đình đã có. 10. Danh mục tài liệu kèm theo đơn. Một điểm tôi đánh giá rất quan trọng Không nên viết đơn theo hướng khẳng định ngay rằng “gia đình chắc chắn được cấp sổ”. Cách chắc pháp lý hơn là yêu cầu cơ quan nhà nước chứng minh chính xác căn cứ pháp lý khiến 2.430 m² không được đăng ký, đồng thời yêu cầu đối chiếu ranh giới dự án – hồ sơ giao đất – hồ sơ thu hồi – bản đồ địa chính – hiện trạng thực tế. Bởi theo Nghị định 101/2024/NĐ-CP, UBND cấp xã có trách nhiệm xác nhận hiện trạng, tranh chấp, nguồn gốc và việc sử dụng đất ổn định trong quá trình đăng ký lần đầu; hồ sơ còn phải được xem xét theo các căn cứ về nguồn gốc, sử dụng ổn định và quy hoạch. Đặc biệt, Thông báo 148 hiện mới nêu kết luận “đất nằm trong diện tích đã giao cho dự án”, nhưng từ ảnh tôi chưa thấy Thông báo chỉ ra cụ thể 2.430 m² nằm ở thửa nào, tờ bản đồ nào, chồng lấn bao nhiêu m² và căn cứ vào bản đồ nào. Đây chính là điểm nên tập trung làm rõ trong khiếu nại. Luật Khiếu nại hiện hành cũng cho phép người khiếu nại yêu cầu cung cấp, sao chụp tài liệu, chứng cứ liên quan và yêu cầu áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn hậu quả từ quyết định bị khiếu nại. Luật Khiếu nại 02/2011/QH13 trên Cổng thông tin Chính phủ⁠ Luật Đất đai 31/2024/QH15 trên Cổng thông tin Chính phủ⁠ Nghị định 101/2024/NĐ-CP về đăng ký, cấp Giấy chứng nhận⁠ Nếu ông muốn làm vụ Nguyễn Văn Bình thật chặt, bước tiếp theo tôi khuyên là lập thêm một văn bản riêng: “BẢN LUẬN CỨ KHIẾU NẠI”, đánh thẳng vào 2 Quyết định 5346/QĐ-UBND và 566/QĐ-UBND, đối chiếu với bản trích đo 2.430 m² năm 2025 và toàn bộ tài liệu nguồn gốc đất mà ông đã gửi trước đây. Đây sẽ là phần quan trọng nhất để chứng minh Thông báo 148 có căn cứ hay không. Tôi đã chuyển bản Đơn khiếu nại vụ Nguyễn Văn Bình – bà Nguyễn Thị Huyền sang PDF, gồm cả danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tải PDF – Đơn khiếu nại vụ Nguyễn Văn Bình