Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

ĐƠN KHIẾU NẠI Về việc khiếu nại Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 về việc trả lại hồ sơ đăng ký đất đai

Tôi đã đọc kỹ Thông báo số 148/TB-KTHTĐT trong ảnh, ngày 27/8/2026, của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ về việc trả hồ sơ đăng ký đất đai của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền, diện tích 2.430 m². Điểm rất quan trọng: vì từ 01/7/2026 pháp luật khiếu nại đã được sửa để phù hợp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Chủ tịch UBND phường có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định/hành vi của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã. Vì vậy, tôi đề xuất đơn dưới đây gửi Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ, đồng thời nêu rõ người bị khiếu nại là Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị. ⸻ ĐƠN KHIẾU NẠI Về việc khiếu nại Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 về việc trả lại hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN KHIẾU NẠI Kính gửi: CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG ĐẠI MỖ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI I. NGƯỜI KHIẾU NẠI Ông: Nguyễn Văn Bình Bà: Nguyễn Thị Huyền Địa chỉ: Số 5 Đại lộ Thăng Long, phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội. Số CCCD: ……………………………………… Điện thoại: ……………………………………… Là người sử dụng diện tích đất 2.430 m² tại phường Đại Mỗ và là người đã nộp hồ sơ đăng ký đất đai, đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. II. NGƯỜI BỊ KHIẾU NẠI Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ, là người ký Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 về việc trả lại hồ sơ đăng ký đất đai của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. III. ĐỐI TƯỢNG KHIẾU NẠI Tôi khiếu nại: 1. Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ. 2. Hành vi trả lại hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. Tôi cho rằng Thông báo và việc trả hồ sơ nêu trên chưa có đủ căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế để kết luận toàn bộ diện tích 2.430 m² không đủ điều kiện xem xét đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, đồng thời chưa làm rõ đầy đủ nguồn gốc, quá trình sử dụng, ranh giới thực tế và tình trạng pháp lý của toàn bộ diện tích đất. Theo Luật Khiếu nại, công dân có quyền khiếu nại khi cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình; thời hiệu khiếu nại thông thường là 90 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định/hành vi bị khiếu nại. ⸻ IV. NỘI DUNG VÀ LÝ DO KHIẾU NẠI 1. Thông báo đã kết luận diện tích 2.430 m² không có cơ sở cấp Giấy chứng nhận nhưng chưa làm rõ cụ thể tình trạng pháp lý của từng phần diện tích Theo Thông báo số 148/TB-KTHTĐT, cơ quan chuyên môn cho rằng: Hồ sơ có bản trích đo địa chính thửa đất số 498M08.25/HSKTĐT, do Công ty TNHH một thành viên Bản đồ và Trắc địa Địa chính Hà Nội lập ngày 08/8/2025. Thông báo đồng thời cho rằng kết quả đối chiếu hồ sơ quản lý địa chính thể hiện thửa đất mà công dân đề nghị cấp Giấy chứng nhận nằm trong diện tích đất UBND Thành phố đã giao cho Công ty cổ phần Phát triển thể thao và giải trí Mễ Trì để thực hiện dự án. Tuy nhiên, Thông báo chưa thể hiện rõ: * Số tờ bản đồ; * Số thửa đất theo hồ sơ địa chính hiện hành; * Ranh giới cụ thể của 2.430 m²; * Tọa độ, mốc giới; * Diện tích nào của 2.430 m² thực sự nằm trong ranh giới dự án; * Diện tích nào nằm ngoài ranh giới dự án, nếu có; * Căn cứ bản đồ nào để xác định sự chồng lấn; * Ranh giới dự án được xác định tại thời điểm nào; * Có biên bản bàn giao đất trên thực địa hay chưa; * Có quyết định thu hồi đất đối với phần diện tích mà gia đình ông Bình, bà Huyền đang sử dụng hay chưa. Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định quyền sử dụng đất. Do đó, việc chỉ viện dẫn rằng diện tích đất “nằm trong” diện tích dự án nhưng không thể hiện bản đồ ranh giới và tài liệu pháp lý chứng minh cụ thể là chưa đủ để người dân có thể kiểm tra, đối chiếu và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. ⸻ 2. Cần phân biệt giữa “quy hoạch/dự án” với việc Nhà nước đã thực sự thu hồi đất Thông báo viện dẫn: * Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016; * Quyết định số 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018. Tuy nhiên, việc một khu đất nằm trong phạm vi quy hoạch hoặc dự án không đương nhiên đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất đã bị chấm dứt. Để xác định chính xác vấn đề này cần kiểm tra đầy đủ: 1. Quyết định giao đất/cho thuê đất cho chủ đầu tư; 2. Hồ sơ xác định ranh giới giao đất; 3. Bản đồ kèm theo quyết định; 4. Quyết định thu hồi đất đối với phần đất của hộ gia đình; 5. Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nếu có; 6. Quyết định phê duyệt phương án bồi thường; 7. Chứng từ chi trả tiền bồi thường; 8. Biên bản bàn giao đất ngoài thực địa; 9. Hồ sơ chỉnh lý biến động địa chính; 10. Hồ sơ xác định chủ thể đang quản lý, sử dụng thực tế diện tích 2.430 m². Nếu chưa có quyết định thu hồi đất hợp pháp đối với phần diện tích gia đình đang sử dụng, chưa có việc bàn giao đất trên thực địa và chưa có tài liệu xác định chính xác ranh giới thì cần phải làm rõ trước khi kết luận rằng toàn bộ 2.430 m² không thể đăng ký. ⸻ 3. Cơ quan giải quyết hồ sơ phải kiểm tra, xác minh đầy đủ nguồn gốc và quá trình sử dụng đất Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định nội dung đăng ký đất đai lần đầu phải thể hiện các thông tin về thửa đất như số thửa, số tờ bản đồ, địa chỉ, diện tích, loại đất, hình thức sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất và các thông tin liên quan. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, UBND cấp xã phải xác nhận nguồn gốc sử dụng đất và việc sử dụng đất ổn định theo quy định. Đặc biệt, Điều 34 Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định việc xác nhận sử dụng đất ổn định có thể căn cứ vào nhiều loại tài liệu, chẳng hạn: * Biên lai thuế; * Giấy tờ về điện, nước; * Giấy tờ mua bán, chuyển nhượng; * Bản đồ, tài liệu đo đạc; * Sổ mục kê; * Tài liệu kê khai đăng ký nhà đất; * Các tài liệu khác theo quy định. Vì vậy, tôi đề nghị cơ quan giải quyết không chỉ căn cứ vào một kết quả đối chiếu hồ sơ địa chính, mà phải kiểm tra toàn bộ quá trình sử dụng đất của gia đình. ⸻ 4. Đề nghị kiểm tra thực địa và đối chiếu bản đồ Theo quy định của Nghị định 101/2024/NĐ-CP, việc xác nhận hiện trạng sử dụng đất được căn cứ vào biên bản của Hội đồng đăng ký đất đai hoặc việc xác minh thực địa khi cần thiết. Trong vụ việc này, do đang có sự khác biệt giữa: hồ sơ do gia đình cung cấp – bản trích đo địa chính năm 2025 – hồ sơ địa chính – ranh giới dự án được viện dẫn trong Thông báo, tôi đề nghị UBND phường tổ chức: kiểm tra, xác minh thực địa toàn bộ diện tích 2.430 m², xác định rõ: * vị trí; * hiện trạng; * ranh giới; * mốc giới; * diện tích thực tế; * nguồn gốc sử dụng; * quá trình sử dụng; * phần diện tích có hoặc không nằm trong ranh giới dự án. Kết quả kiểm tra phải được lập thành biên bản, có sự tham gia của người sử dụng đất. ⸻ 5. Đề nghị công khai các tài liệu mà cơ quan đã sử dụng làm căn cứ trả hồ sơ Thông báo số 148/TB-KTHTĐT đang sử dụng các tài liệu quản lý nhà nước để kết luận hồ sơ không đủ điều kiện. Vì vậy, để bảo đảm quyền được biết và quyền cung cấp chứng cứ của người khiếu nại, tôi đề nghị cơ quan giải quyết cung cấp hoặc cho phép tôi được tiếp cận, sao chụp các tài liệu liên quan, đặc biệt: A. Đối với Quyết định 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 Đề nghị cung cấp: * Bản chính hoặc bản sao chứng thực; * Bản đồ ranh giới dự án; * Phụ lục diện tích; * Hồ sơ giao đất; * Tài liệu xác định phạm vi đất thực tế. B. Đối với Quyết định 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018 Đề nghị cung cấp: * Toàn văn quyết định; * Bản đồ; * Hồ sơ xác định 03 tuyến đường; * Ranh giới cụ thể; * Diện tích đất liên quan đến gia đình ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. C. Hồ sơ địa chính Đề nghị cung cấp hoặc cho sao chụp: * Bản đồ địa chính; * Sổ mục kê; * Sổ địa chính; * Hồ sơ biến động; * Hồ sơ chỉnh lý; * Tài liệu xác định nguồn gốc đất; * Tài liệu thể hiện việc giao đất cho chủ đầu tư; * Hồ sơ thu hồi đất, nếu có. ⸻ 6. Bản trích đo địa chính năm 2025 cần được đối chiếu trực tiếp với ranh giới dự án Hồ sơ của gia đình có mảnh trích đo địa chính thửa đất số 498M08.25/HSKTĐT lập ngày 08/8/2025. Đây là tài liệu cần được đối chiếu trực tiếp với: bản đồ dự án + quyết định giao đất + hồ sơ địa chính + hiện trạng thực tế. Không nên chỉ kết luận chung rằng “nằm trong diện tích dự án” mà không xác định được phần nào, bao nhiêu mét vuông, nằm ở đâu và theo bản đồ nào. Nếu chỉ có một phần diện tích nằm trong phạm vi dự án thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền phải xác định riêng từng phần diện tích, không nên mặc nhiên bác toàn bộ yêu cầu đối với 2.430 m². ⸻ 7. Đề nghị xem xét toàn bộ hồ sơ nguồn gốc đất của gia đình Tôi đề nghị UBND phường xác minh toàn bộ quá trình sử dụng đất của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền, bao gồm: * Thời điểm bắt đầu sử dụng; * Nguồn gốc đất; * Người sử dụng ban đầu; * Quá trình quản lý, sử dụng; * Các giấy tờ về đất; * Việc kê khai đăng ký qua các thời kỳ; * Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính; * Hồ sơ bản đồ qua các thời kỳ; * Hiện trạng sử dụng; * Việc có hay không có tranh chấp; * Việc Nhà nước đã từng thu hồi hoặc bồi thường hay chưa. Đây là những yếu tố cần thiết để đánh giá đúng điều kiện đăng ký đất đai. ⸻ 8. Việc trả hồ sơ phải có căn cứ và lý do cụ thể Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục phải kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ và không được yêu cầu người dân nộp thêm giấy tờ ngoài quy định. Trường hợp trả hồ sơ hoặc dừng giải quyết cũng phải thuộc trường hợp pháp luật quy định. Do đó, tôi đề nghị cơ quan giải quyết xác định chính xác điều khoản pháp luật nào của Luật Đất đai 2024 và Nghị định 101/2024/NĐ-CP được áp dụng để kết luận hồ sơ của gia đình không đủ điều kiện. Không thể chỉ kết luận chung rằng “không có cơ sở để xem xét cấp Giấy chứng nhận” mà không phân tích: * điều kiện nào không đáp ứng; * tài liệu nào chứng minh; * phần diện tích nào không đáp ứng; * căn cứ pháp luật cụ thể nào áp dụng. ⸻ V. YÊU CẦU GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI Từ những nội dung trên, tôi kính đề nghị Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ: 1. Thụ lý đơn khiếu nại đối với Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 và hành vi trả hồ sơ của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ. Theo Luật Khiếu nại, trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được đơn thuộc thẩm quyền và không thuộc trường hợp bị loại trừ, người có thẩm quyền phải thụ lý hoặc thông báo lý do không thụ lý. 2. Tạm dừng việc trả hồ sơ và các hoạt động hành chính tiếp theo bất lợi cho người khiếu nại cho đến khi giải quyết xong nội dung khiếu nại. Trường hợp việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại có nguy cơ gây hậu quả khó khắc phục, Luật Khiếu nại cho phép người giải quyết khiếu nại áp dụng biện pháp tạm đình chỉ theo Điều 35. 3. Hủy bỏ hoặc thu hồi Thông báo số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 nếu xác định việc trả hồ sơ là chưa đúng quy định pháp luật. 4. Yêu cầu Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị tiếp nhận, khôi phục việc giải quyết hồ sơ đăng ký đất đai của ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền theo đúng quy định. 5. Tổ chức kiểm tra thực địa toàn bộ diện tích 2.430 m². 6. Đo đạc, xác định chính xác: ranh giới thực tế – ranh giới địa chính – ranh giới dự án – diện tích chồng lấn (nếu có). 7. Yêu cầu cơ quan chuyên môn cung cấp cho người khiếu nại các tài liệu đã sử dụng làm căn cứ kết luận đất nằm trong dự án, đặc biệt là: * Quyết định 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016; * Quyết định 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018; * Bản đồ kèm theo; * Hồ sơ giao đất; * Hồ sơ thu hồi đất; * Hồ sơ bồi thường; * Biên bản bàn giao đất; * Hồ sơ chỉnh lý địa chính. 8. Xác minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của gia đình theo Luật Đất đai 2024 và Nghị định 101/2024/NĐ-CP. 9. Nếu xác định chỉ một phần diện tích 2.430 m² có liên quan đến dự án thì đề nghị phân định riêng từng phần diện tích, không được mặc nhiên từ chối toàn bộ diện tích. 10. Sau khi xác minh, nếu diện tích đất hoặc một phần diện tích đủ điều kiện đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, đề nghị tiếp tục giải quyết hồ sơ theo quy định pháp luật. 11. Trường hợp cơ quan cho rằng toàn bộ hoặc một phần diện tích không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận, đề nghị ban hành văn bản giải quyết có: * căn cứ pháp luật cụ thể; * căn cứ hồ sơ; * kết quả xác minh; * kết quả kiểm tra thực địa; * bản đồ ranh giới; * diện tích cụ thể; * lý do cụ thể; * quyền khiếu nại, khởi kiện của công dân. ⸻ VI. ĐỀ NGHỊ TỔ CHỨC ĐỐI THOẠI Tôi đề nghị Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ tổ chức đối thoại trực tiếp với ông Nguyễn Văn Bình và bà Nguyễn Thị Huyền. Tại buổi đối thoại, đề nghị cơ quan giải quyết công khai: 1. Bản đồ ranh giới dự án; 2. Ranh giới 2.430 m²; 3. Hồ sơ giao đất cho chủ đầu tư; 4. Hồ sơ thu hồi đất, nếu có; 5. Hồ sơ bồi thường, nếu có; 6. Hồ sơ địa chính; 7. Căn cứ pháp luật để trả hồ sơ. Theo Luật Khiếu nại, khi yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh còn khác nhau thì người giải quyết phải tổ chức đối thoại; người khiếu nại có quyền đưa ra chứng cứ và ý kiến của mình, và kết quả đối thoại phải được lập thành biên bản. ⸻ VII. CAM KẾT CỦA NGƯỜI KHIẾU NẠI Tôi cam đoan những nội dung trình bày trên đây là đúng theo những tài liệu, chứng cứ mà tôi đang có và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại. Tôi kính đề nghị Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ xem xét khách quan, toàn diện, đúng quy định pháp luật; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Tôi đề nghị được nhận: * Thông báo thụ lý khiếu nại; * Kết quả xác minh; * Biên bản đối thoại; * Quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản. Tôi xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 2026 NGƯỜI KHIẾU NẠI Ông NGUYỄN VĂN BÌNH (Ký, ghi rõ họ tên) Bà NGUYỄN THỊ HUYỀN (Ký, ghi rõ họ tên) ⸻ Hồ sơ tôi khuyên ông Bình và bà Huyền nộp kèm 01. Bản sao Thông báo 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026. 02. Bản trích đo địa chính số 498M08.25/HSKTĐT ngày 08/8/2025. 03. Toàn bộ giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất. 04. Giấy tờ mua bán/chuyển giao/giao đất nếu có. 05. Các giấy tờ thuế, kê khai nhà đất, điện nước, xác nhận sử dụng đất. 06. Các bản đồ, sổ mục kê, tài liệu địa chính cũ mà gia đình đang có. 07. Ảnh hiện trạng khu đất. 08. Tài liệu chứng minh quá trình sử dụng ổn định. 09. Các tài liệu liên quan đến Quyết định 5346 và 566 nếu gia đình đã có. 10. Danh mục tài liệu kèm theo đơn. Một điểm tôi đánh giá rất quan trọng Không nên viết đơn theo hướng khẳng định ngay rằng “gia đình chắc chắn được cấp sổ”. Cách chắc pháp lý hơn là yêu cầu cơ quan nhà nước chứng minh chính xác căn cứ pháp lý khiến 2.430 m² không được đăng ký, đồng thời yêu cầu đối chiếu ranh giới dự án – hồ sơ giao đất – hồ sơ thu hồi – bản đồ địa chính – hiện trạng thực tế. Bởi theo Nghị định 101/2024/NĐ-CP, UBND cấp xã có trách nhiệm xác nhận hiện trạng, tranh chấp, nguồn gốc và việc sử dụng đất ổn định trong quá trình đăng ký lần đầu; hồ sơ còn phải được xem xét theo các căn cứ về nguồn gốc, sử dụng ổn định và quy hoạch. Đặc biệt, Thông báo 148 hiện mới nêu kết luận “đất nằm trong diện tích đã giao cho dự án”, nhưng từ ảnh tôi chưa thấy Thông báo chỉ ra cụ thể 2.430 m² nằm ở thửa nào, tờ bản đồ nào, chồng lấn bao nhiêu m² và căn cứ vào bản đồ nào. Đây chính là điểm nên tập trung làm rõ trong khiếu nại. Luật Khiếu nại hiện hành cũng cho phép người khiếu nại yêu cầu cung cấp, sao chụp tài liệu, chứng cứ liên quan và yêu cầu áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn hậu quả từ quyết định bị khiếu nại. Luật Khiếu nại 02/2011/QH13 trên Cổng thông tin Chính phủ⁠ Luật Đất đai 31/2024/QH15 trên Cổng thông tin Chính phủ⁠ Nghị định 101/2024/NĐ-CP về đăng ký, cấp Giấy chứng nhận⁠ Nếu ông muốn làm vụ Nguyễn Văn Bình thật chặt, bước tiếp theo tôi khuyên là lập thêm một văn bản riêng: “BẢN LUẬN CỨ KHIẾU NẠI”, đánh thẳng vào 2 Quyết định 5346/QĐ-UBND và 566/QĐ-UBND, đối chiếu với bản trích đo 2.430 m² năm 2025 và toàn bộ tài liệu nguồn gốc đất mà ông đã gửi trước đây. Đây sẽ là phần quan trọng nhất để chứng minh Thông báo 148 có căn cứ hay không. Tôi đã chuyển bản Đơn khiếu nại vụ Nguyễn Văn Bình – bà Nguyễn Thị Huyền sang PDF, gồm cả danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tải PDF – Đơn khiếu nại vụ Nguyễn Văn Bình

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét