Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

Đây là một chi tiết rất quan trọng và có giá trị chứng cứ lớn.

Đây là một chi tiết rất quan trọng và có giá trị chứng cứ lớn. Trong Công văn số 2425/UBND-TTPTQĐ ngày 05/9/2022 của UBND quận Nam Từ Liêm gửi TAND thành phố Hà Nội, phần liên quan đến hộ bà Lê Thị Nguyệt, có nội dung: “Hộ gia đình bà Lê Thị không phải là hộ gia đình tái lấn chiếm diện tích đất và tài sản trên đất của các hộ gia đình, cá nhân đã có quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ.” Chỉ riêng nội dung này đã có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng. Ý nghĩa của chứng cứ này Thứ nhất, đây là sự thừa nhận của chính UBND quận Nam Từ Liêm trong văn bản gửi Tòa án, không phải ý kiến một phía của người dân. Thứ hai, khi khẳng định “không phải là hộ tái lấn chiếm”, UBND quận đã loại trừ một căn cứ thường được sử dụng để cho rằng hộ gia đình đã quay lại chiếm đất sau khi Nhà nước thu hồi. Thứ ba, nếu không phải là tái lấn chiếm thì cần làm rõ: * Gia đình bà Lê Thị Nguyệt đang sử dụng phần đất nào? * Phần đất đó đã có quyết định thu hồi hay chưa? * Nếu đã thu hồi thì quyết định nào áp dụng trực tiếp đối với hộ gia đình? * Nếu chưa thu hồi thì vì sao sau này lại cho rằng đất đã được giao cho dự án? Đối chiếu với các tài liệu khác Khi đặt Công văn 2425 cạnh các tài liệu khác mà bạn đã cung cấp, xuất hiện một chuỗi tình tiết cần được giải thích: * Ngày 17/6/2017: lập biên bản hiện trạng khu nhà đất giáp hàng rào dự án. * Ngày 14/3/2018: lập biên bản hiện trạng, ghi nhận khu vực chưa kiểm đếm. * Ngày 26/9/2019: lập biên bản hiện trạng nhà nứt, bể phốt sập. * Ngày 05/9/2020: đo mốc giới. * Ngày 01/12/2021: TAND thành phố Hà Nội thẩm định tại chỗ. * Ngày 05/9/2022: UBND quận xác nhận bà Lê Thị Nguyệt không phải là hộ tái lấn chiếm. Nếu tất cả các tài liệu này đều phản ánh cùng một khu đất thì đây là chuỗi chứng cứ cần được đối chiếu với nhận định cho rằng phần đất này đã được thu hồi và bàn giao cho dự án từ năm 2016–2018. Một câu rất đắt có thể đưa vào video “Ngày 05/9/2022, chính UBND quận Nam Từ Liêm trong Công văn số 2425 gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xác nhận: ‘Hộ gia đình bà Lê Thị Nguyệt không phải là hộ tái lấn chiếm đất’. Nếu không phải là tái lấn chiếm, thì phần đất gia đình đang sử dụng có nguồn gốc pháp lý như thế nào? Đó chính là câu hỏi mà những con số và những văn bản trong hồ sơ đang đặt ra, và cần được cơ quan có thẩm quyền giải đáp bằng chứng cứ.” Cách lập luận này bám sát nội dung văn bản và nêu ra câu hỏi pháp lý cần làm rõ, thay vì khẳng định vượt quá những gì tài liệu thể hiện.

1. UBND quận thừa nhận ông Nguyễn Văn Bình là người khiếu nại liên tục

Trang tài liệu này rất quan trọng. Sau khi đọc nội dung, tôi thấy đây là phần bổ sung ý kiến của UBND quận Nam Từ Liêm gửi TAND thành phố Hà Nội, và chính nó lại bổ sung thêm nhiều chứng cứ có lợi cho việc đối chiếu hồ sơ. Tôi rút ra một số điểm đáng chú ý như sau: 1. UBND quận thừa nhận ông Nguyễn Văn Bình là người khiếu nại liên tục Tài liệu ghi rõ: * Quyết định 5259/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 phê duyệt phương án bồi thường. * Ông Nguyễn Văn Bình khiếu nại. * UBND quận giải quyết lần 1 bằng Quyết định 788/QĐ-UBND ngày 08/02/2017. * Ông Bình tiếp tục khiếu nại. * UBND thành phố giải quyết lần 2 bằng Quyết định 5835/QĐ-UBND ngày 22/8/2017. Điều này chứng minh việc khiếu nại của ông Bình diễn ra ngay sau khi có quyết định bồi thường, chứ không phải nhiều năm sau mới phát sinh. ⸻ 2. Chính UBND quận xác nhận gia đình ông Bình phải di chuyển chỗ ở Đoạn sau ghi rất rõ: “Để đảm bảo chính sách an sinh xã hội đối với hộ gia đình ông Nguyễn Văn Bình phải di chuyển chỗ ở…” Điều này cho thấy chính quyền đã xác định đây là vấn đề liên quan đến chỗ ở của hộ gia đình, chứ không đơn thuần là xử lý hành vi lấn chiếm. ⸻ 3. Đến năm 2020 vẫn chưa giải quyết dứt điểm Văn bản còn nêu: * Báo cáo số 357/BC-UBND ngày 01/10/2020 về vướng mắc trong giải quyết đơn thư. * Văn bản số 9088/VP-GPMB ngày 20/10/2020 của UBND thành phố. * Công văn số 234/SXD-PTĐT ngày 11/01/2022 của Sở Xây dựng. * Công văn số 478/UBND-TTPTQĐ ngày 08/3/2022 giới thiệu các dự án nhà ở xã hội. Điều này chứng minh đến tận năm 2022, cơ quan nhà nước vẫn đang tìm phương án giải quyết chỗ ở cho hộ ông Nguyễn Văn Bình. Nếu một khu đất đã được thu hồi, bàn giao và giải quyết hoàn toàn từ năm 2016 thì việc tiếp tục xử lý, báo cáo và bố trí nhà ở trong các năm 2020–2022 là một diễn biến cần được giải thích. ⸻ Điều tôi nhận thấy sau khi xem toàn bộ hồ sơ bạn đã gửi Hiện nay bạn đã có gần như đầy đủ hồ sơ để xây dựng một bản phân tích chứng cứ theo dòng thời gian, gồm: * 1990–2011: Nguồn gốc đất bãi thải và quá trình quản lý. * 2011: Bàn giao bãi thải. * 2015: Quy hoạch 318.711 m², Công văn 790, kiểm đếm 38 hộ. * 2016: Thu hồi, bồi thường, giao đất. * 2017: Khiếu nại, kiểm tra hiện trạng. * 2018: Xác nhận hiện trạng, giải quyết khiếu nại. * 2019: Biên bản hiện trạng nhà nứt, bể phốt sập. * 2020: Đo mốc giới, báo cáo vướng mắc. * 2021: TAND Hà Nội thẩm định tại chỗ. * 2022: UBND quận gửi Công văn 2425 cho TAND. * 2024–2026: Quyết định 2867, Quyết định 2670 và quá trình khiếu nại. Tôi đề nghị làm một “Sách chứng cứ” Theo tôi, với lượng tài liệu hiện nay, không nên chỉ viết từng bài riêng lẻ nữa. Nên biên soạn thành một “Sách chứng cứ vụ Đồng Trong Đống” khoảng 80–100 trang, chia thành các chương: 1. Chương I: Nguồn gốc đất và quá trình quản lý. 2. Chương II: Những con số không biết nói dối (phân tích diện tích 318.711 m², 293.479 m², 25.232 m²…). 3. Chương III: Dòng thời gian 2009–2026. 4. Chương IV: Những mâu thuẫn giữa các quyết định, công văn và biên bản. 5. Chương V: Phân tích pháp lý theo Luật Đất đai, Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính. 6. Chương VI: Hệ thống phụ lục gồm toàn bộ quyết định, công văn, bản đồ, biên bản hiện trạng và ảnh chứng cứ. Đây sẽ là một tài liệu có tính hệ thống, giúp người đọc (Thanh tra Chính phủ, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền) nắm được toàn bộ vụ việc theo trình tự và đối chiếu từng chứng cứ một cách rõ ràng

đối chiếu nhanh, tôi thấy có một số điểm đáng chú ý. 1. Chính UBND quận xác nhận quy mô dự án là khoảng 318.711 m²

Tôi đã xem các văn bản bạn tải lên. Đây không chỉ là các tài liệu rời rạc mà là một chuỗi hồ sơ chính thức do UBND quận Nam Từ Liêm gửi TAND thành phố Hà Nội ngày 05/9/2022 để bảo vệ quan điểm của mình trong vụ án hành chính. Chính vì vậy, giá trị chứng cứ của chúng rất lớn. Qua đối chiếu nhanh, tôi thấy có một số điểm đáng chú ý. 1. Chính UBND quận xác nhận quy mô dự án là khoảng 318.711 m² Trong các tài liệu có: * Công văn 790 của Sở Kế hoạch và Đầu tư. * Quyết định quy hoạch tổng diện tích khoảng 318.711 m². * Các tài liệu về bàn giao bãi thải, bồi thường, giao đất… Điều này phù hợp với số liệu bạn đã tính. 2. Hồ sơ của chính UBND quận ghi nhận * Công ty Môi trường đô thị được bồi thường khoảng 74.234 m². * Ngày 05/7/2011 bàn giao khoảng 78.114 m². * Sau đó Quyết định 5822 lại thu hồi khoảng 75.292,83 m². Ba con số này không hoàn toàn trùng nhau, vì vậy cần giải thích: * Vì sao bồi thường 74.234 m²? * Vì sao bàn giao 78.114 m²? * Vì sao quyết định thu hồi là 75.292,83 m²? Phần chênh lệch nằm ở đâu? 3. Hồ sơ cũng ghi rõ Ngày 07/9/2016 UBND quận ban hành Quyết định 5235 thu hồi 2.046,17 m². Sau đó: * 37/38 hộ nhận tiền. * Bàn giao mặt bằng từ tháng 11/2016. Đây chính là cơ sở để bạn đặt câu hỏi: Nếu đã bàn giao từ năm 2016 thì hiện nay khu đất đó ở đâu? Vì sao vẫn để hoang? Vì sao nhiều người lấn chiếm? Đây là câu hỏi hoàn toàn hợp lý. 4. Hồ sơ còn tự mâu thuẫn về hiện trạng Trong các trang bạn gửi có các mốc: * năm 2015 kiểm đếm hiện trạng; * năm 2016 thu hồi; * năm 2017 tiếp tục xác định hiện trạng; * năm 2018 tiếp tục họp xác định hiện trạng; * năm 2019 tiếp tục lập biên bản hiện trạng. Nếu các tài liệu này đều nói về cùng khu vực thì rõ ràng cần làm rõ vì sao sau khi đã “bàn giao” vẫn còn nhiều hoạt động kiểm tra, xác định hiện trạng và giải quyết các vấn đề phát sinh. 5. Điểm rất mạnh Tôi đặc biệt chú ý một chi tiết. Trong Công văn số 2425/UBND-TTPTQĐ ngày 05/9/2022, UBND quận viện dẫn rất nhiều tài liệu từ năm 2015–2018 để chứng minh quá trình bồi thường, kiểm đếm. Chính điều này tạo điều kiện để đối chiếu với: * Quyết định 5346. * Quyết định 566. * Quyết định 5822. * Quyết định 5235. * Quyết định 5239. * Biên bản hiện trạng 17/6/2017. * Biên bản ngày 14/3/2018. * Biên bản ngày 26/9/2019. * Hồ sơ thẩm định của TAND Hà Nội năm 2021. Nếu giữa các tài liệu này có mâu thuẫn về diện tích, vị trí tờ bản đồ, hiện trạng sử dụng đất và thời điểm bàn giao, thì đây sẽ là những điểm cần được cơ quan giải quyết khiếu nại hoặc Tòa án xem xét. Tôi đề xuất bước tiếp theo Theo tôi, không nên dừng ở bài “Những con số không biết nói dối” nữa. Nên làm thành một chuyên đề chứng cứ khoảng 25–30 trang với tiêu đề: “Những con số không biết nói dối – Phân tích các mâu thuẫn trong hồ sơ thu hồi đất và giao đất của Dự án Khu chức năng cây xanh, hồ điều hòa và một phần công trình công cộng kết hợp nhà ở tại Mễ Trì” Trong chuyên đề đó, tôi sẽ lập bảng đối chiếu từng con số giữa: * Công văn 790. * Quyết định 3855. * Quyết định 5346. * Quyết định 566. * Quyết định 5822. * Quyết định 5235. * Quyết định 5239. * Công văn 2425 ngày 05/9/2022. * Hồ sơ thẩm định của TAND năm 2021. * Biên bản hiện trạng năm 2017, 2018, 2019. Sau đó chỉ ra từng điểm mâu thuẫn, khoảng trống cần giải thích và những câu hỏi pháp lý phát sinh, hoàn toàn dựa trên tài liệu gốc. Đây sẽ là một tài liệu có giá trị rất lớn để gửi Thanh tra Chính phủ, UBND thành phố Hà Nội hoặc sử dụng trong quá trình tố tụng

NHỮNG CON SỐ KHÔNG HỀ BIẾT NÓI DỐI

NHỮNG CON SỐ KHÔNG HỀ BIẾT NÓI DỐI Phân tích chứng cứ từ các quyết định, văn bản và hiện trạng trong vụ việc thu hồi đất tại khu Đồng Trong - Đồng Song Đống, phường Mễ Trì (nay là phường Đại Mỗ) Trong quá trình khiếu nại, tôi nhận thấy điều đáng lo ngại nhất không phải là những lời giải thích khác nhau của các cơ quan chức năng, mà là sự mâu thuẫn giữa chính các con số trong hồ sơ do Nhà nước ban hành. Con người có thể nhầm lẫn, có thể giải thích khác nhau, nhưng các con số trong quyết định hành chính thì không biết nói dối. Khi đặt các quyết định, công văn và biên bản cạnh nhau, nhiều mâu thuẫn lớn xuất hiện và đến nay vẫn chưa được bất kỳ cơ quan nào giải trình. I. Quy mô dự án là 318.711 m², nhưng quyết định giao đất chỉ có 293.479 m² Theo Công văn số 790 ngày 20/8/2015 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, diện tích thực hiện dự án tại phường Mễ Trì gồm: * Đất bãi thải Công ty Môi trường đô thị Hà Nội: 70.803 m² * Đất Xí nghiệp gạch Nam Thắng: 32.010 m² * Đất nông nghiệp do phường quản lý: 95.950 m² * Đất hồ ao: 72.477 m² * Đất giao thông: 24.296 m² * Đất thủy lợi: 22.087 m² * Đất của Tổng công ty Viglacera: 1.115 m² Tổng cộng: 318.711 m² (gần 32 ha). Tuy nhiên, diện tích được UBND thành phố Hà Nội giao đất theo hai quyết định chỉ gồm: * Quyết định số 5346 năm 2016: 263.161 m² * Quyết định số 566 năm 2018: 30.318 m² Tổng cộng chỉ là 293.479 m². Như vậy: 318.711 m² − 293.479 m² = 25.232 m² Có nghĩa là còn 25.232 m², tương đương khoảng 2,5232 ha, chưa được giải thích. Đây là một câu hỏi rất đơn giản nhưng đến nay chưa có câu trả lời: * 25.232 m² này nằm ở đâu? * Thuộc tờ bản đồ nào? * Thuộc những thửa đất nào? * Đã có quyết định thu hồi hay chưa? * Nếu chưa có quyết định thu hồi thì căn cứ pháp lý nào để xác định đây là đất của dự án? Nếu không trả lời được các câu hỏi trên thì không thể khẳng định toàn bộ diện tích dự án đã được thu hồi và giao đất hợp pháp. II. Chênh lệch diện tích đất bãi thải của Công ty Môi trường đô thị Hà Nội Ngày 05/7/2011, Công ty Môi trường đô thị Hà Nội bàn giao cho Trung tâm Phát triển quỹ đất Hà Nội: 78.114 m². Trong khi đó, Công văn số 790 ngày 20/8/2015 chỉ xác định diện tích đất bãi thải là: 70.803 m². Như vậy có sự chênh lệch: 78.114 m² − 70.803 m² = 7.311 m² (xấp xỉ hơn 7.000 m²). Khoảng chênh lệch này cũng chưa từng được giải trình: * Phần diện tích chênh lệch đang ở đâu? * Có được chuyển mục đích sử dụng không? * Có quyết định điều chỉnh nào không? * Hay đã được tính vào một khu vực khác? Đây là vấn đề cần được làm rõ bằng hồ sơ địa chính và bản đồ đo đạc. III. Quyết định 5822 vẫn chưa thu hồi toàn bộ diện tích tờ bản đồ số 34 Theo tài liệu địa chính: Tờ bản đồ số 34 có diện tích khoảng: 12.785 m². Tuy nhiên, Quyết định số 5822 ngày 22/9/2016 của UBND quận Nam Từ Liêm chỉ thu hồi tại tờ bản đồ số 34: 9.648 m². Như vậy còn khoảng: 3.137 m² không nằm trong quyết định thu hồi. Vậy diện tích còn lại thuộc phạm vi nào? Đã có quyết định thu hồi hay chưa? Nếu chưa thu hồi thì căn cứ nào để xác định đây là đất của dự án? IV. Gia đình chỉ bàn giao 2.046,17 m² nhưng đến nay vẫn bỏ hoang Theo Quyết định số 5235 ngày 07/9/2016, UBND quận Nam Từ Liêm thu hồi: 2.046,17 m². Gia đình đã nhận tiền và bàn giao mặt bằng vào tháng 11/2016. Đến nay, sau gần mười năm, phần đất này vẫn để hoang, trong khi nhiều người đã tự ý lấn chiếm, dựng công trình nhưng không bị xử lý dứt điểm. Điều này đặt ra câu hỏi: Nếu thực sự cần đất để triển khai dự án thì vì sao đất đã thu hồi lại bị bỏ không trong thời gian dài? V. Hai quyết định giao đất được công khai quá muộn Hai quyết định giao đất của UBND thành phố Hà Nội ban hành từ các năm 2016 và 2018. Tuy nhiên, theo tài liệu người dân tiếp cận được, đến ngày 04/02/2026 các quyết định này mới được công khai. Nếu đúng như vậy thì thời gian chậm công khai đã kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được biết, quyền giám sát và quyền khiếu nại của người sử dụng đất. Đây là vấn đề cần được cơ quan có thẩm quyền giải trình rõ. VI. Hồ sơ thu hồi đất có dấu hiệu nhầm lẫn vị trí Quyết định số 5239 ngày 07/9/2016 thu hồi: 227,09 m² tại tờ bản đồ số 22. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết hồ sơ sau này, gia đình phát hiện nhiều tài liệu lại thể hiện nội dung liên quan đến tờ bản đồ số 33 và 34, kèm theo dấu hiệu tẩy xóa, sửa chữa vị trí và diện tích. Nếu tài liệu gốc đúng như phản ánh thì đây là dấu hiệu cần được kiểm tra, đối chiếu bản chính để xác định có hay không việc chỉnh sửa hồ sơ sau khi ban hành. VII. Chuỗi biên bản hiện trạng phủ nhận nhận định “đã bàn giao đất” Nếu cơ quan nhà nước cho rằng khu đất đã bàn giao cho dự án từ năm 2016 và 2018 thì vì sao sau đó vẫn liên tục lập các biên bản xác nhận hiện trạng sử dụng đất của gia đình? * Ngày 17/6/2017, UBND phường Mễ Trì và cán bộ dự án lập biên bản xác định khu nhà đất của gia đình vẫn giáp hàng rào tôn của dự án đang thi công. * Ngày 14/3/2018, UBND quận Nam Từ Liêm và Trung tâm Phát triển quỹ đất Hà Nội lập biên bản hiện trạng, xác định nhà giáp lũy rác, giáp trạm điện E20, có đường bê tông tôn tạo và ghi nhận khu vực chưa kiểm đếm. * Sau khi đơn vị thi công phá lũy rác để đào hồ điều hòa, nền đất bị sạt lở làm sập bể phốt và nứt tường nhà. * Ngày 26/9/2019, UBND phường Mễ Trì cùng đại diện dự án tiếp tục lập biên bản hiện trạng ghi nhận thiệt hại. Nếu đất đã được thu hồi và bàn giao từ năm 2016 thì việc các cơ quan nhà nước tiếp tục xác lập hiện trạng sử dụng đất của gia đình trong các năm 2017, 2018 và 2019 là vấn đề cần được giải thích. VIII. Kiến nghị Từ các tài liệu nêu trên, tôi kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền: 1. Công khai đầy đủ hồ sơ thu hồi và giao đất đối với toàn bộ diện tích 318.711 m². 2. Làm rõ căn cứ pháp lý của 25.232 m² chưa được thể hiện trong hai quyết định giao đất. 3. Làm rõ phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất bãi thải đã bàn giao năm 2011 và diện tích xác định trong Công văn số 790 năm 2015. 4. Giải thích vì sao các biên bản hiện trạng từ năm 2017 đến năm 2019 vẫn xác nhận gia đình đang quản lý, sử dụng đất nếu cơ quan nhà nước cho rằng đất đã được bàn giao từ năm 2016. 5. Kiểm tra tính chính xác của hồ sơ liên quan đến Quyết định số 5239 và các tài liệu có dấu hiệu nhầm lẫn hoặc sửa chữa về tờ bản đồ, vị trí và diện tích. Một quyết định hành chính có thể được giải thích theo nhiều cách. Một lời trình bày có thể có những cách hiểu khác nhau. Nhưng các con số trong hồ sơ địa chính, trong quyết định thu hồi đất, trong quyết định giao đất và trong các biên bản do chính cơ quan nhà nước lập thì không biết nói dối. Khi những con số ấy mâu thuẫn với nhau, cơ quan ban hành có trách nhiệm giải thích bằng chứng cứ khách quan. Chỉ khi các mâu thuẫn này được làm rõ thì quyền và lợi ích hợp pháp của người dân mới được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Lưu ý: Trong bài trên, tôi giữ cách diễn đạt ở mức phân tích chứng cứ và nêu các dấu hiệu cần được làm rõ, tránh khẳng định chắc chắn có hành vi “làm giả hồ sơ” hoặc “gian dối” khi chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Cách trình bày này sẽ có giá trị pháp lý và sức thuyết phục cao hơn khi sử dụng trong hồ sơ khiếu nại hoặc tại Tòa án.

Vấn đề cần làm rõ về diện tích đất của dự án Theo hồ sơ của dự án

Con số bạn cung cấp làm nổi bật một vấn đề pháp lý rất đáng chú ý. Nếu các số liệu này đều lấy từ hồ sơ, quyết định chính thức của cơ quan nhà nước thì đây là một nội dung cần được yêu cầu giải trình. Bạn có thể trình bày như sau: ⸻ Vấn đề cần làm rõ về diện tích đất của dự án Theo hồ sơ của dự án: * Quyết định số 5346 năm 2016 giao: 263.161 m² * Quyết định số 566 năm 2018 giao: 30.318 m² Tổng diện tích đã được giao theo hai quyết định là: 263.161 + 30.318 = 293.479 m² Trong khi đó, hồ sơ dự án xác định tổng diện tích thực hiện dự án là: 318.711 m² Như vậy còn thiếu: 318.711 − 293.479 = 25.232 m² Tức còn 25.232 m² (khoảng 2,5232 ha) chưa được xác định rõ căn cứ pháp lý. Những vấn đề cần UBND thành phố Hà Nội và UBND quận Nam Từ Liêm giải trình 1. 25.232 m² còn lại nằm ở đâu? * Thuộc tờ bản đồ nào? * Thuộc thửa đất nào? * Hiện trạng sử dụng ra sao? 2. Diện tích này đã có quyết định thu hồi đất hay chưa? * Nếu đã thu hồi thì đề nghị công khai số, ngày, tháng, năm của quyết định thu hồi. * Nếu chưa thu hồi thì căn cứ nào để xác định diện tích này thuộc phạm vi dự án? 3. Nếu cơ quan nhà nước cho rằng toàn bộ diện tích đã được bàn giao cho dự án từ năm 2016 và năm 2018, thì đề nghị làm rõ: * Cụ thể từng khu vực đã bàn giao ở vị trí nào? * Thuộc tờ bản đồ nào? * Có biên bản bàn giao mặt bằng đối với từng khu vực hay không? * Ai là người bàn giao và ai là người tiếp nhận? 4. Đối với phần đất gia đình tôi đang quản lý tại tờ bản đồ số 33 và 34, nếu cơ quan nhà nước cho rằng đã nằm trong diện tích giao cho dự án thì đề nghị xuất trình: * Quyết định thu hồi đất đối với phần đất này; * Phương án bồi thường, hỗ trợ; * Biên bản kiểm đếm; * Biên bản bàn giao mặt bằng; * Hồ sơ xác định mốc giới trên thực địa. Nếu không xuất trình được các tài liệu trên thì không thể kết luận phần đất này đã được thu hồi và bàn giao hợp pháp cho dự án. ⸻ Đây là điểm mấu chốt Từ các tài liệu bạn đã cung cấp trước đây, có một chuỗi câu hỏi cần được đối chiếu: * Gia đình chỉ bàn giao phần đất tờ bản đồ số 22 theo Quyết định 5239 ngày 07/9/2016. * Từ năm 2017, UBND phường vẫn lập biên bản xác định hiện trạng giữa đất gia đình và hàng rào dự án. * Năm 2018, cơ quan chức năng vẫn xác nhận hiện trạng sử dụng đất của gia đình. * Năm 2019, tiếp tục lập biên bản hiện trạng nhà bị nứt, bể phốt sập. * Năm 2020, tiếp tục đo đạc mốc giới. * Năm 2021, TAND TP Hà Nội thẩm định và đo đạc, xác định gia đình vẫn đang quản lý 1.129 m² đất vườn và 411 m² đất nhà. Nếu những tài liệu này đều đúng và phản ánh cùng một khu đất, thì cần được đối chiếu với nhận định của cơ quan nhà nước về việc “đã bàn giao đất cho dự án từ năm 2016 và 2018”. Việc giải thích sự khác biệt giữa các tài liệu và hiện trạng là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền. Đây là một trong những nội dung rất quan trọng để yêu cầu cơ quan giải quyết khiếu nại hoặc Tòa án làm rõ trong quá trình xem xét vụ việc.

III. Diễn biến vụ việc và các mâu thuẫn trong hồ sơ quản lý đất đai

Những thông tin bạn vừa trình bày rất quan trọng. Tôi nhận thấy trong đó có một chuỗi sự kiện liên tục từ năm 2016 đến năm 2024, đồng thời xuất hiện nhiều mâu thuẫn nội tại trong hồ sơ của chính cơ quan nhà nước. Nếu viết dưới góc độ luật sư, tôi sẽ hệ thống lại thành các nhóm vấn đề như sau. ⸻ III. Diễn biến vụ việc và các mâu thuẫn trong hồ sơ quản lý đất đai 1. Diện tích dự án và diện tích đã được thu hồi không thống nhất Theo hồ sơ dự án thể thao, tổng diện tích thực hiện dự án khoảng hơn 31 ha (khoảng 320.000 m²). Trong khi đó, hai Quyết định của UBND thành phố Hà Nội năm 2016 và năm 2018 (trong đó có Quyết định số 5346) cộng lại chỉ thể hiện diện tích khoảng hơn 29 ha. Như vậy còn thiếu khoảng trên 20.000 m² (hơn 2 ha) chưa được giải thích rõ: * thuộc phần diện tích nào; * đã có quyết định thu hồi hay chưa; * nếu đã thu hồi thì quyết định nào; * nếu chưa thu hồi thì căn cứ pháp lý nào để đưa vào phạm vi dự án. Đây là một khoảng trống pháp lý rất lớn cần phải được cơ quan có thẩm quyền giải thích. ⸻ 2. Gia đình chỉ bàn giao phần đất thuộc tờ bản đồ số 22 Ngày 07/9/2016, UBND quận Nam Từ Liêm ban hành Quyết định số 5239 thu hồi diện tích 227,09 m² thuộc tờ bản đồ số 22. Gia đình đã: * nhận tiền bồi thường; * bàn giao mặt bằng vào tháng 11/2016. Việc bàn giao này chỉ liên quan đến tờ bản đồ số 22. ⸻ 3. Hồ sơ sau đó lại chuyển từ tờ bản đồ số 22 sang tờ bản đồ số 33 và 34 Sau khi kiểm tra hồ sơ, gia đình phát hiện: * nhiều tài liệu ban đầu ghi tờ bản đồ số 22; * sau đó lại chuyển thành tờ bản đồ số 33, 34; * trên tài liệu xuất hiện dấu hiệu tẩy xoá, đóng dấu chồng chéo, sửa chữa. Nếu đúng như hồ sơ thể hiện thì đây là dấu hiệu rất nghiêm trọng, bởi: * đối tượng bị thu hồi đất đã bị thay đổi; * vị trí thửa đất bị thay đổi; * phạm vi thu hồi đất không còn đúng như quyết định ban đầu. Đây là nội dung cần được giám định toàn bộ hồ sơ gốc. ⸻ IV. Thực tế sử dụng đất hoàn toàn trái ngược với kết luận “đã bàn giao” Nếu cơ quan nhà nước cho rằng đất đã giao cho dự án từ năm 2016 thì diễn biến thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Ngày 17/6/2017 Khi dự án thi công đào hồ điều hòa, UBND phường Mễ Trì cùng cán bộ dự án đã lập Biên bản hiện trạng. Biên bản xác định: * phía Tây khu vườn của gia đình vẫn tiếp giáp hàng rào tôn của dự án; * dự án thi công ở phía trong hàng rào; * gia đình vẫn đang quản lý và sử dụng phần đất phía ngoài. Điều này chứng minh rằng: đến năm 2017 khu đất của gia đình vẫn tồn tại độc lập với khu đất dự án. Nếu đất đã được bàn giao từ năm 2016 thì không có lý do gì năm 2017 cơ quan chức năng vẫn phải lập biên bản xác định ranh giới giữa đất gia đình và đất dự án. ⸻ V. Sự cố sạt lở do dự án thi công Trong quá trình đào hồ điều hòa, đơn vị thi công đã: * phá bỏ bờ lũy rác cũ; * đào sát ranh giới; * làm sụt đất. Hậu quả: * bể phốt bị sập; * tường nhà bị nứt; * nền đất bị ảnh hưởng. Gia đình nhiều lần gửi đơn yêu cầu giải quyết. Ngày 26/9/2019, UBND phường Mễ Trì cùng cán bộ dự án đã lập Biên bản hiện trạng. Biên bản ghi nhận đầy đủ: * vị trí bể phốt bị sập; * chiều dài vết nứt; * chiều rộng vết nứt; * hiện trạng ngôi nhà. Đây là chứng cứ khách quan xác nhận: đến năm 2019 gia đình vẫn đang quản lý, sử dụng nhà đất tại vị trí này. ⸻ VI. Các lần kiểm tra tiếp tục khẳng định gia đình vẫn sử dụng đất Ngày 05/9/2020 Đơn vị đo đạc đến kiểm tra mốc giới. Gia đình còn lưu video ghi lại toàn bộ quá trình. Điều này cho thấy: nếu đất đã bàn giao từ năm 2016 thì không cần tiếp tục xác định tọa độ và mốc giới năm 2020. ⸻ Ngày 01/12/2021 Theo yêu cầu của TAND thành phố Hà Nội, Tòa án cùng các cơ quan chuyên môn tiến hành: * thẩm định tại chỗ; * đo đạc; * đối chiếu bản đồ địa chính. Kết quả đo thể hiện: * diện tích vườn còn khoảng 1.129 m²; * diện tích khu nhà khoảng 411 m². Các mốc ranh giới với Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội vẫn tồn tại. Đây là chứng cứ rất quan trọng vì được lập trong quá trình tố tụng và có sự tham gia của nhiều cơ quan. ⸻ Năm 2018 Trong quá trình giải quyết khiếu nại, UBND quận Nam Từ Liêm và Trung tâm Phát triển quỹ đất đã trực tiếp xác nhận: ngoài diện tích nhà và vườn, gia đình còn quản lý phần đường đi từ trạm điện vào khu Đồng Song Đống theo hiện trạng sử dụng từ năm 2003. Biên bản này tiếp tục khẳng định cơ quan nhà nước vẫn thừa nhận hiện trạng sử dụng đất của gia đình sau năm 2016. ⸻ VII. Mâu thuẫn đặc biệt trong Quyết định 2867 Ngày 02/5/2022, UBND phường Mễ Trì lập Biên bản kiểm tra hiện trạng. Nội dung biên bản chỉ ghi nhận: * gia đình sửa chữa nhà; * nguyên nhân do bể phốt bị sập và tường bị nứt; * trước đó gia đình đã gửi đơn nhưng chưa được giải quyết. Đây không phải biên bản vi phạm hành chính. Tuy nhiên đến 29/11/2024, UBND quận Nam Từ Liêm lại sử dụng chính biên bản này để ban hành Quyết định số 2867, xử phạt theo Nghị định 123/2024. Điều này phát sinh ít nhất ba vấn đề pháp lý: 1. Biên bản hiện trạng không phải là biên bản vi phạm hành chính nên không thể làm căn cứ xử phạt. 2. Thời gian từ ngày 02/5/2022 đến ngày 29/11/2024 đã hơn 30 tháng, vượt rất xa thời hạn xử lý vi phạm hành chính theo quy định. 3. Nội dung biên bản xác định việc sửa chữa xuất phát từ thiệt hại do dự án gây ra, không phải hành vi xây dựng trái phép mới phát sinh. ⸻ Theo đánh giá của tôi, toàn bộ chuỗi sự kiện từ 2016–2024 đang hình thành một hệ thống chứng cứ rất mạnh. Điểm cốt lõi không chỉ là một quyết định xử phạt sai, mà là sự mâu thuẫn giữa hồ sơ hành chính với hiện trạng thực tế và các biên bản do chính cơ quan nhà nước lập qua nhiều năm. Đây sẽ là một trong những trọng tâm quan trọng để lập luận trong hồ sơ khiếu nại và nếu cần thì trong vụ án hành chính đối với Quyết định 2867 và Quyết định 2670.

* Biên bản vi phạm hành chính số 1952/BB-VPHC ngày 21/11/2024.

Tôi đã xem toàn bộ các ảnh. Đây là một bộ hồ sơ khá quan trọng gồm: * Biên bản vi phạm hành chính số 1952/BB-VPHC ngày 21/11/2024. * Quyết định số 2867/QĐ-KPHQ ngày 29/11/2024 của Chủ tịch UBND quận Nam Từ Liêm về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. * Quyết định giao đất số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 của UBND TP Hà Nội giao đất cho Công ty Phát triển thể thao và giải trí Mễ Trì (nay là Vingroup). * Các trang thể hiện ý kiến của bà Lê Thị được ghi trực tiếp trong biên bản. Sau khi đối chiếu, tôi có một số nhận xét như sau. ⸻ 1. Đây là hồ sơ có điểm yếu rất lớn Điều tôi chú ý đầu tiên là: UBND không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Mà lại ghi: “Đã hết thời hiệu xử phạt nên chỉ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.” Đây chính là điểm mấu chốt. Muốn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì phải chứng minh được: * có hành vi vi phạm; * hành vi đó còn tồn tại; * người bị áp dụng đúng là chủ thể vi phạm; * đủ điều kiện của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Nếu không chứng minh được thì Quyết định 2867 có thể bị xem xét về tính hợp pháp. ⸻ 2. Họ xác định thời điểm vi phạm là tháng 5/2022 Trong Quyết định ghi: “Thời điểm vi phạm: tháng 5/2022.” Đây là một chi tiết rất đáng chú ý. Trong khi bà Ng ghi rõ trong biên bản: Gia đình đã sử dụng đất từ rất lâu, trước năm 2000. Nếu đúng như vậy thì phát sinh câu hỏi pháp lý: Tại sao UBND lại xác định thời điểm vi phạm là năm 2022? Căn cứ nào? Có: * ảnh vệ tinh? * biên bản kiểm tra năm 2022? * hồ sơ xây dựng năm 2022? * người làm chứng? Nếu không có thì đây là nhận định cần phải chứng minh. ⸻ 3. Chính bà Nguyệt đã ghi một ý rất có lợi Trong biên bản có ghi: “Tôi không xây dựng mới hay cơi nới gì từ năm 2016 đến nay…” Đây là câu rất quan trọng. Nếu chứng minh được điều này đúng thì sẽ phát sinh vấn đề: Nếu công trình đã tồn tại trước đó thì: tại sao lại xác định hành vi vi phạm xảy ra năm 2022? Hai nội dung này đang có dấu hiệu chưa thống nhất. ⸻ 4. Họ viện dẫn Quyết định giao đất năm 2016 Họ ghi: khu đất đã được giao theo Quyết định 5346. Đúng là Quyết định 5346 có giao đất. Nhưng Quyết định giao đất không tự động chứng minh rằng trước đó người dân sử dụng đất là trái pháp luật. Đó là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Muốn kết luận người dân lấn chiếm thì còn phải chứng minh: * trước khi giao đất ai đang quản lý; * có bồi thường hay chưa; * có thu hồi hay chưa; * người dân vào sau hay ở từ trước. Đó mới là bản chất. ⸻ 5. Tôi đặc biệt chú ý tới ý kiến của bà Nguyệt Trong biên bản bà ghi khá rõ: * đất sử dụng từ trước năm 2000; * sau khi giao đất năm 2016 gia đình vẫn ở; * không xây dựng mới. Đây là lời khai ngay tại thời điểm lập biên bản. Về giá trị chứng cứ, lời khai này có ý nghĩa vì cho thấy người bị lập biên bản đã trình bày quan điểm của mình ngay từ đầu, chứ không phải đến khi khiếu nại mới nêu. Tuy nhiên, lời khai này vẫn cần được hỗ trợ bằng tài liệu khác (ảnh cũ, nhân chứng, giấy tờ, biên lai, sơ đồ, xác nhận…) để tăng sức thuyết phục. ⸻ 6. Có một điểm pháp lý tôi cho là cần nghiên cứu rất kỹ Quyết định ghi: đất phi nông nghiệp thuộc dự án Vinhomes Green Bay. Trong khi theo trình bày của gia đình: * đây vốn là ruộng, * sử dụng ổn định từ trước năm 1990. Như vậy cần tách hai giai đoạn: Giai đoạn 1 Đất trước năm 2016 là đất gì? Ai quản lý? Gia đình sử dụng từ khi nào? ⸻ Giai đoạn 2 Sau Quyết định giao đất năm 2016: * Nhà nước đã thu hồi phần đất này chưa? * Có phương án bồi thường không? * Có bàn giao thực địa không? * Gia đình có bị cưỡng chế hay vẫn ở nguyên? Đây mới là các câu hỏi pháp lý quan trọng. ⸻ 7. Điểm tôi đánh giá là “yếu” nhất của UBND Tôi thấy hồ sơ hiện nay chưa thể hiện rõ tài liệu chứng minh: * công trình xây năm nào; * ảnh hiện trạng năm 2022; * ai xác định thời điểm xây dựng; * căn cứ nào kết luận diện tích 528,4 m²; * căn cứ nào xác định đây là hành vi của bà Nguyệt. Nếu sau này đưa ra Tòa hành chính thì những nội dung này thường sẽ được xem xét kỹ. ⸻ 8. Nhận xét tổng thể Theo đánh giá sơ bộ của tôi: * Quyết định giao đất 5346/2016 là căn cứ pháp lý về việc giao đất cho doanh nghiệp, nhưng không phải là căn cứ duy nhất để kết luận gia đình lấn chiếm. * Biên bản 1952 có ghi nhận ý kiến phản đối của bà Nguyệt, đây là điểm có lợi về mặt chứng cứ. * Quyết định 2867 lựa chọn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do hết thời hiệu xử phạt, nên tính hợp pháp của quyết định sẽ phụ thuộc nhiều vào việc cơ quan ban hành có chứng minh đầy đủ hành vi vi phạm và chủ thể vi phạm hay không. Từ toàn bộ hồ sơ mà anh đã gửi trong nhiều ngày qua, tôi cho rằng đây là một trong những điểm có giá trị để xây dựng lập luận khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính. Việc lập luận nên tập trung vào các vấn đề: nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của gia đình, tính hợp pháp của việc xác định thời điểm vi phạm, và tính đầy đủ của căn cứ chứng minh hành vi vi phạm, thay vì chỉ tranh luận về việc dự án đã được giao đất hay chưa. Đây sẽ là hướng phân tích có trọng tâm và phù hợp với các tài liệu hiện có.

Thông báo số 1497/TB-UBND ngày 10/9/2024 của UBND phường Mễ Trì.

Thông báo số 1497/TB-UBND ngày 10/9/2024 của UBND phường Mễ Trì. Đây là một tài liệu rất quan trọng, nhưng theo góc độ pháp lý, nó không hẳn bất lợi như bề ngoài. Ngược lại, nó để lộ khá nhiều điểm cần xem xét. Tôi tóm tắt nội dung như sau: * UBND phường kết luận rằng tố cáo “Vinhomes Green Bay chiếm đất, xây dựng trái phép” là sai. * Căn cứ chủ yếu của họ là: 1. Cho rằng khu đất là đất bãi thải được giao cho Công ty Môi trường đô thị từ năm 1990. 2. Năm 2010 kiểm đếm ghi nhận “đất trống”. 3. Năm 2016 có Quyết định thu hồi đất. 4. Năm 2016 và 2018 UBND TP giao đất cho chủ đầu tư. Nhìn qua thì có vẻ đầy đủ. Nhưng nếu phân tích như một luật sư thì lại xuất hiện rất nhiều vấn đề. 1. Họ hoàn toàn né tránh vấn đề quan trọng nhất Gia đình bà Nguyệt (gia đình bạn) nhiều lần trình bày: * sử dụng đất từ trước năm 1990; * ở ổn định nhiều chục năm; * có nhà cửa, cây cối; * không được bồi thường; * không được xác nhận nguồn gốc. Trong khi đó Thông báo này không hề xác minh: * ai sử dụng trước năm 1990; * ai khai phá; * ai quản lý thực tế; * tại sao không lập hồ sơ người sử dụng đất. Đó mới là nội dung cần xác minh. Họ chỉ nói: đất thuộc Công ty Môi trường đô thị. Điều đó không đồng nghĩa với việc trên thực tế không có người dân sử dụng. ⸻ 2. Họ đánh tráo khái niệm Có một sự khác nhau rất lớn giữa: đất do Nhà nước giao Công ty quản lý và đất Công ty quản lý trên thực tế. Nếu Công ty được giao quản lý nhưng: * không quản lý, * không sử dụng, * để người dân ở hàng chục năm, thì Nhà nước vẫn phải giải quyết quyền lợi của người đang sử dụng đất theo Luật Đất đai. Thông báo không phân tích điểm này. ⸻ 3. Họ sử dụng biên bản kiểm đếm năm 2010 làm chứng cứ Thông báo ghi: ngày 09/6/2010 kiểm đếm hiện trạng là đất trống. Đây lại là điểm rất đáng tranh luận. Nếu gia đình có: * ảnh, * nhân chứng, * giấy tờ, * hộ khẩu, * điện nước, * biên bản khác, chứng minh năm 2010 đã có sử dụng đất, thì biên bản này có thể bị bác bỏ. Một biên bản kiểm đếm không phải là chân lý tuyệt đối. ⸻ 4. Họ không chứng minh việc thu hồi đất đối với gia đình Thông báo viện dẫn: * Quyết định 5822 năm 2016; * Quyết định 5346 năm 2016. Nhưng lại không chứng minh: * gia đình đã được thông báo thu hồi; * đã được kiểm đếm hợp pháp; * đã được lập phương án bồi thường; * đã được đối thoại; * đã nhận quyết định. Nếu thiếu các bước này thì đây là khoảng trống pháp lý rất đáng chú ý. ⸻ 5. Sai đối tượng của vụ việc tố cáo Gia đình tố cáo: Chủ đầu tư đang xây dựng trên phần đất gia đình đang sử dụng. Nhưng UBND lại trả lời theo hướng: Thành phố đã giao đất cho chủ đầu tư. Hai vấn đề này không hoàn toàn giống nhau. Nếu việc thu hồi đất trước đó có sai phạm, thì việc giao đất sau này cũng có thể bị xem xét trong phạm vi vụ án hành chính hoặc các thủ tục pháp lý khác. ⸻ 6. Điều bất thường nhất Cuối văn bản ghi: Biện pháp xử lý theo thẩm quyền: Không. Nếu họ kết luận tố cáo sai thì điều này có thể hiểu được. Tuy nhiên, họ cũng không xem xét, giải thích hay xử lý các phản ánh về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của công dân, khiến phạm vi giải quyết khá hẹp so với những nội dung mà gia đình nhiều lần nêu. ⸻ Theo tôi, tài liệu này lại có giá trị ở chỗ nào? Nếu sau này khởi kiện hành chính hoặc tiếp tục khiếu nại, chính văn bản này sẽ cho thấy: * UBND phường chỉ dựa trên hồ sơ quản lý của cơ quan nhà nước. * Không xác minh đầy đủ quá trình sử dụng đất thực tế của gia đình. * Không làm rõ quyền lợi của người sử dụng đất trước khi dự án triển khai. * Không phân tích đầy đủ các chứng cứ mà người tố cáo cung cấp (nếu có). Đó đều có thể trở thành các luận điểm để đánh giá tính đầy đủ và khách quan của việc giải quyết tố cáo. ⸻ Theo tôi nhớ, trong hồ sơ bạn đã gửi trước đây còn có: * hồ sơ sử dụng đất trước năm 1990; * các biên bản vi phạm lập sau khi dự án triển khai; * Quyết định 5346; * nhiều tài liệu liên quan đến quá trình quản lý, sử dụng đất. Nếu đặt Thông báo 1497/TB-UBND cạnh toàn bộ hồ sơ đó, tôi có thể chỉ ra từng điểm mâu thuẫn giữa các tài liệu, lập thành một bản phân tích pháp lý chi tiết như một bản luận cứ của luật sư (khoảng 10–15 trang). Tôi cho rằng đây sẽ là một trong những tài liệu quan trọng nhất để sử dụng trong quá trình khiếu nại hoặc tố tụng

Khi ghép Quyết định 5822/QĐ-UBND, Thông báo 1497, 05 biên bản vi phạm, các biên bản giao nhận năm 2021

Khi ghép Quyết định 5822/QĐ-UBND, Thông báo 1497, 05 biên bản vi phạm, các biên bản giao nhận năm 2021, cùng những tài liệu bạn đã cung cấp trước đây về nguồn gốc đất, thì bức tranh pháp lý bắt đầu xuất hiện nhiều điểm không thống nhất. Dưới đây là phân tích theo góc nhìn của một luật sư chuyên về đất đai. ⸻ I. Dòng thời gian của vụ việc Giai đoạn 1: Gia đình sử dụng đất * Gia đình sử dụng đất từ trước năm 1990. * Không có tài liệu thể hiện Nhà nước xử lý vi phạm hoặc tranh chấp trong thời gian rất dài. * Đây là căn cứ quan trọng để xem xét nguồn gốc sử dụng đất. ➡ Điều này phù hợp với lời trình bày của gia đình và cần được đối chiếu với hồ sơ địa chính. ⸻ Giai đoạn 2: Dự án được triển khai Khoảng năm 2015–2016: * Quy hoạch chi tiết được phê duyệt. * Sau đó ban hành Quyết định 5822 ngày 22/9/2016. Đây là thời điểm bắt đầu xuất hiện các biện pháp hành chính đối với khu đất. ⸻ Giai đoạn 3: Sau khi có Quyết định 5822 Điều đáng chú ý là: Gia đình không được giao quyết định ngay năm 2016. Đến tận năm 2021 mới được giao bản photocopy. Khoảng trống này kéo dài hơn 5 năm. ⸻ II. Mâu thuẫn thứ nhất Quyết định 5822 nói thu hồi đất của ai? Điều 1 ghi rõ: Thu hồi 75.292,83 m² đất do Công ty TNHH MTV Môi trường và Đô thị quản lý. Không ghi: * hộ bà Lê Thị * hộ ông… * hộ gia đình nào. Đây là điểm rất quan trọng. Nếu Nhà nước xác định: đất do Công ty Môi trường quản lý, thì cần chứng minh: * vì sao gia đình lại đang sinh sống, * ai giao đất, * ai quản lý thực tế, * vì sao tồn tại hàng chục năm. Đây là khoảng trống chứng cứ. ⸻ III. Mâu thuẫn thứ hai Thông báo 1497 Thông báo 1497 lại xác định: Gia đình là người: * lấn chiếm, * sử dụng trái phép, * phải chấm dứt… Nhưng: Nếu thật sự lấn chiếm thì phải chứng minh: * lấn chiếm từ khi nào, * lấn chiếm ai, * có biên bản ban đầu, * có hồ sơ quản lý. Trong khi theo tài liệu bạn cung cấp: Gia đình ở từ trước dự án rất lâu. Hai lập luận này chưa thống nhất. ⸻ IV. Mâu thuẫn thứ ba Các biên bản vi phạm Bạn đã gửi nhiều biên bản. Qua phân tích trước đây tôi đã nhận thấy: Các biên bản đều xuất hiện sau khi dự án triển khai. Tức là: Không phải vi phạm được phát hiện từ nhiều năm trước. Mà là: Sau khi có dự án mới bắt đầu lập biên bản. Điều này dẫn đến câu hỏi: Nếu đất bị lấn chiếm từ rất lâu thì: Tại sao suốt hàng chục năm: * không xử phạt, * không cưỡng chế, * không yêu cầu trả đất? ⸻ V. Mâu thuẫn thứ tư Quyết định 5822 nói: Đã được phê duyệt bồi thường theo Quyết định 15815 năm 2010. Nhưng: Gia đình lại nói: * không được kiểm kê, * không được bồi thường, * không biết Quyết định 15815. Nếu đúng như vậy thì cần làm rõ: Gia đình có nằm trong phương án năm 2010 hay không. Nếu: Không có tên thì tại sao năm 2016 lại ghi: không phải phê duyệt bồi thường. Đây là điểm rất đáng tranh luận. ⸻ VI. Mâu thuẫn thứ năm Biên bản giao văn bản năm 2021 Ngày: 29/10/2021 mới giao: Quyết định 5822. Lại chỉ là: “Bản photo”. Gia đình còn ghi ngay trên biên bản: bản photo không có dấu. Điều đó chứng minh: Gia đình không được tiếp cận quyết định ngay từ năm 2016. Nếu điều này là đúng thì nó ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện của gia đình. ⸻ VII. Điểm yếu lớn nhất của phía cơ quan Nhà nước Nếu ghép toàn bộ hồ sơ lại thì tôi thấy xuất hiện một khoảng trống chứng cứ: Họ đã chứng minh: Có quy hoạch. Có quyết định thu hồi. Có biên bản vi phạm. Nhưng chưa thấy tài liệu chứng minh đầy đủ: * Gia đình bắt đầu sử dụng đất từ thời điểm nào. * Nguồn gốc sử dụng đất. * Vì sao không xử lý trong nhiều năm trước dự án. * Vì sao không xác định quyền lợi của người đang sử dụng đất trước khi áp dụng các biện pháp hành chính. Đó là vấn đề cốt lõi. ⸻ VIII. Điểm mạnh của gia đình Nếu những tài liệu gia đình đang giữ là đầy đủ thì có thể hình thành chuỗi lập luận: Gia đình sử dụng đất ổn định từ trước năm 1990. ↓ Nhiều năm không ai xử lý. ↓ Khi có dự án mới xuất hiện các biên bản. ↓ Sau đó ban hành Thông báo 1497. ↓ Trong khi Quyết định 5822 chỉ thu hồi đất do Công ty Môi trường quản lý. ↓ Gia đình không được giao quyết định năm 2016. ↓ Đến năm 2021 mới được giao bản photo. Chuỗi sự kiện này có thể được sử dụng để đặt ra các câu hỏi về tính đầy đủ của việc xác minh nguồn gốc đất, việc xác định đối tượng bị ảnh hưởng và trình tự thực hiện các thủ tục hành chính. ⸻ IX. Theo tôi, “nút thắt” lớn nhất của toàn bộ vụ án Tôi cho rằng toàn bộ vụ việc sẽ xoay quanh một câu hỏi pháp lý duy nhất: Thửa đất gia đình bà Lê Thị Nguyệt đang sử dụng trước khi có dự án thực chất là đất của ai, có nguồn gốc pháp lý như thế nào và gia đình có thuộc đối tượng phải được xác minh, xem xét quyền lợi khi Nhà nước thu hồi đất hay không? Nếu câu hỏi này chưa được làm rõ bằng hồ sơ địa chính, hồ sơ quản lý đất đai và tài liệu kiểm kê, thì các quyết định và biện pháp hành chính ban hành sau đó sẽ cần được đánh giá trong bối cảnh toàn bộ quá trình sử dụng đất, chứ không chỉ dựa trên việc dự án đã được phê duyệt. Theo tôi, đây là hướng lập luận có giá trị nhất để xây dựng một bản luận cứ pháp lý chuyên sâu khoảng 20–30 trang, trong đó đối chiếu từng tài liệu (Quyết định 5822, Quyết định 15815, Thông báo 1497, các biên bản vi phạm, hồ sơ nguồn gốc đất và các văn bản liên quan) nhằm chỉ ra những điểm thống nhất, mâu thuẫn và những khoảng trống chứng cứ cần Hội đồng xét xử hoặc cơ quan giải quyết khiếu nại xem xét. Đây có thể trở thành một tài liệu trọng tâm trong hồ sơ vụ án Mễ Trì.

Kết luận 430 vừa có điểm rất bất lợi cho gia đình bà Lê Thị vừa có một số điểm cực kỳ có lợi mà nếu khai thác đúng sẽ trở thành chứng cứ rất mạnh. ⸻

Tôi đã đối chiếu Kết luận nội dung tố cáo số 430/KL-UBND ngày 28/5/2025 của UBND quận Nam Từ Liêm với các tài liệu trước đây mà bạn đã cung cấp, gồm: * Quyết định 5822/QĐ-UBND ngày 22/9/2016 về thu hồi đất. * Quyết định 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016. * Quyết định 566/QĐ-UBND ngày 30/01/2018. * Kết luận 1482/KL-UBND của UBND phường Mễ Trì. * Thông báo 1497/TB-UBND. * Các biên bản vi phạm hành chính. * Các ảnh thực địa và hồ sơ địa chính. Sau khi phân tích, tôi thấy Kết luận 430 vừa có điểm rất bất lợi cho gia đình bà Lê Thị vừa có một số điểm cực kỳ có lợi mà nếu khai thác đúng sẽ trở thành chứng cứ rất mạnh. ⸻ I. Điều quan trọng nhất Đọc kỹ toàn bộ Kết luận 430 sẽ thấy: UBND quận KHÔNG kết luận rằng gia đình bà Ng. lấn chiếm đất. Họ chỉ kết luận: Không có căn cứ chứng minh hơn 800m² đất gia đình bà Nguyệt nằm ngoài phạm vi thu hồi. Đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Họ không chứng minh được đất của gia đình. Nhưng họ cũng không chứng minh được đất đó đã được thu hồi hợp pháp. Đó là điểm rất quan trọng. ⸻ II. Sai sót rất lớn của Kết luận 430 UBND quận lập luận như sau: Bản đồ năm 1994 thể hiện thửa 01 diện tích 12.785m². Sau đó nói: Quyết định 5822 thu hồi 9.648m². Rồi suy ra: Gia đình không còn quyền. Đây là lập luận có khoảng trống pháp lý rất lớn. Bởi vì: 12.785m² không bằng 9.648m² Thiếu: 3.137m² Chính Kết luận 430 cũng ghi rõ: 3.137m² thu hồi cho Trạm biến áp 110kV Thanh Xuân. Như vậy: 12.785 = 9.648 3.137 = 12.785 Con số khớp. Nhưng: Gia đình bà Ng. đang ở khu vực nào? Đó mới là điều phải chứng minh. Không thể chỉ cộng trừ diện tích rồi kết luận. ⸻ III. Họ chưa chứng minh vị trí Đây là điểm yếu nhất. Muốn bác quyền sử dụng đất của gia đình bà Nguyệt thì phải chứng minh: Khu đất đang ở = thuộc phần 9.648m² hay thuộc phần 3.137m² hay ngoài cả hai. Nhưng Kết luận 430 không có: * bản đồ chồng ghép; * tọa độ; * mốc giới; * sơ đồ đo đạc. Không có gì cả. Đó là thiếu sót nghiêm trọng. ⸻ IV. Mâu thuẫn lớn nhất Trang 5 ghi: Người tố cáo không có giấy tờ theo Điều 137 Luật Đất đai 2024. Điều này không đồng nghĩa với: không có quyền sử dụng đất. Bởi vì: Điều 137 chỉ là một căn cứ. Người dân còn có thể chứng minh bằng: * sử dụng ổn định; * trước năm 1993; * trước năm 1990; * nhân chứng; * nộp thuế; * hộ khẩu; * điện nước; * cây lâu năm; * tài sản trên đất. Nhưng Kết luận 430 gần như bỏ qua toàn bộ quá trình sử dụng thực tế mà gia đình bạn trình bày. ⸻ V. Điểm có lợi rất lớn Đây là câu quan trọng nhất. Trang 5 ghi: Chủ tịch UBND phường Mễ Trì chưa tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ nội dung tố cáo xây dựng trái phép. Sau đó kết luận: Nội dung này chưa được xác minh nhưng đã kết luận là không có cơ sở. Đây là sai phạm tố tụng rất rõ. UBND quận cũng phải thừa nhận. ⸻ Sau đó họ yêu cầu: UBND phường Mễ Trì phải thụ lý giải quyết tố cáo lại. Điều này cực kỳ quan trọng. Nó có nghĩa: Kết luận cũ của phường là thiếu căn cứ. ⸻ VI. UBND quận đã thừa nhận có công trình Trang 2 ghi rõ hiện trạng: Có: * trạm điện * container 40 feet * vườn ươm Điều này có nghĩa: UBND quận xác nhận: Các công trình tồn tại thật. Không thể nói người dân tố cáo bịa đặt. ⸻ VII. Sai sót lớn về chứng cứ Họ dựa vào: Biên bản kiểm đếm năm 2010. Trong đó ghi: đất trống. Nhưng gia đình bạn luôn trình bày: * sử dụng từ trước năm 1990; * nhà cửa, cây cối, vườn tược tồn tại nhiều năm; * đến khi Vingroup triển khai dự án mới phát sinh tranh chấp. Nếu đúng như vậy thì cần làm rõ: * Biên bản 2010 kiểm đếm ở đúng vị trí đất gia đình hay ở phần đất khác? * Gia đình có được thông báo kiểm đếm không? * Có ký biên bản không? * Có tham gia không? Nếu không chứng minh được các điểm này thì giá trị chứng minh của biên bản sẽ bị giảm đáng kể. ⸻ VIII. Điểm mâu thuẫn với Quyết định 5822 Trong Quyết định 5822: không hề mô tả: * vị trí đất gia đình bà Nguyệt; * ranh giới khu đất gia đình; * bản đồ chồng ghép. Nhưng Kết luận 430 lại khẳng định: Gia đình nằm trong diện tích thu hồi. Đó là kết luận suy diễn nếu không có hồ sơ kỹ thuật đi kèm. ⸻ IX. Điểm mạnh nhất để khởi kiện Nếu tôi là luật sư bảo vệ gia đình bà Nguyệt, tôi sẽ tập trung vào bốn luận điểm: 1. Không có bản đồ chồng ghép chứng minh phần đất gia đình thuộc diện tích bị thu hồi. 2. Không xác định được ranh giới ngoài thực địa giữa diện tích 9.648m², 3.137m² và khu đất gia đình đang sử dụng. 3. UBND phường đã kết luận khi chưa xác minh nội dung tố cáo về xây dựng trái phép; chính UBND quận đã yêu cầu phải giải quyết lại. 4. Việc phủ nhận quyền sử dụng đất của gia đình chỉ dựa trên việc “không có giấy tờ” mà chưa đánh giá đầy đủ quá trình sử dụng đất ổn định từ trước là chưa toàn diện. Đánh giá tổng thể Đây là một tài liệu không hoàn toàn bất lợi như nhiều người có thể nghĩ. Ngược lại, nếu đặt cạnh Quyết định 5822, Thông báo 1497, Kết luận 1482 và các biên bản vi phạm, Kết luận 430 còn bộc lộ những khoảng trống chứng cứ và mâu thuẫn về trình tự xác minh. Theo tôi, đây là một trong những tài liệu quan trọng nhất của hồ sơ, vì chính UBND quận đã thừa nhận có thiếu sót trong việc giải quyết tố cáo về hành vi xây dựng trái phép và buộc UBND phường phải thụ lý, giải quyết lại nội dung này. Đồng thời, tài liệu cũng cho thấy cơ quan ban hành chưa chỉ ra được chứng cứ kỹ thuật (bản đồ, tọa độ, mốc giới, sơ đồ chồng ghép) để xác định chính xác phần đất gia đình đang sử dụng nằm trong diện tích nào của các quyết định thu hồi. Từ các tài liệu bạn đã cung cấp trong nhiều ngày qua, tôi cho rằng có thể xây dựng một bản “Luận cứ phản biện Kết luận 430/KL-UBND” dài khoảng 15–20 trang, phân tích từng đoạn, chỉ ra từng mâu thuẫn với Quyết định 5822, Thông báo 1497, các biên bản vi phạm và toàn bộ hồ sơ địa chính. Đây sẽ là tài liệu có thể sử dụng làm căn cứ khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính

Biên bản ngày 14/3/2018 có nhiều chi tiết rất quan trọng. 1. Chính quyền thừa nhận gia đình vẫn đang quản lý, sử dụng đất

Dựa trên toàn bộ hồ sơ bạn đã cung cấp trong các cuộc trao đổi trước và đặc biệt là Biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 14/3/2018 này, tôi cho rằng Quyết định giải quyết khiếu nại số 2670 ngày 28/4/2026 giữ nguyên Quyết định 2867 ngày 29/11/2024 nếu chỉ lập luận rằng “đất đã được giao theo 02 Quyết định của UBND TP năm 2016 và 2018” là chưa giải quyết đúng trọng tâm nội dung khiếu nại của gia đình. Biên bản ngày 14/3/2018 có nhiều chi tiết rất quan trọng. 1. Chính quyền thừa nhận gia đình vẫn đang quản lý, sử dụng đất Trong biên bản ghi rõ: * Gia đình bà Lê Thị chưa nhận tiền bồi thường, hỗ trợ. * Tổ công tác phải xuống kiểm tra hiện trạng thực tế. * Ghi nhận nhà, cây cối, ao cá, gara, công trình, diện tích đang sử dụng. Điều này chứng minh rằng đến tháng 3/2018 việc thu hồi trên thực tế vẫn chưa hoàn thành. Nếu đất đã giao xong từ năm 2016 thì vì sao năm 2018 vẫn phải lập biên bản kiểm tra hiện trạng của hộ dân? Đó là điểm mâu thuẫn đầu tiên. ⸻ 2. Biên bản ghi nhận còn tồn tại tài sản ngoài phần đã kiểm đếm Đặc biệt tôi chú ý đoạn được bạn đánh dấu đỏ. Biên bản thể hiện: * còn phần đất chưa được kiểm đếm; * còn gara; * còn nhà xưởng; * còn ao; * còn phần đất khoảng hàng trăm mét vuông đề nghị kiểm tra. Cuối biên bản còn có sơ đồ do chính cán bộ vẽ thể hiện: * phần đã kiểm đếm; * phần chưa kiểm đếm; * trạm điện; * bãi rác; * tòa Vinaconex. Đây là chứng cứ rất mạnh. Nó chứng minh rằng chính cơ quan nhà nước cũng xác định việc kiểm kê chưa hoàn tất. ⸻ 3. Gia đình tiếp tục khiếu nại ngay tại biên bản Biên bản còn ghi: * gia đình yêu cầu được bồi thường; * đề nghị kiểm đếm phần còn lại; * đề nghị xác định đúng diện tích; * không đồng ý với kết quả trước đó. Như vậy, đến năm 2018 tranh chấp vẫn đang tồn tại. ⸻ 4. Điều này làm yếu lập luận của Quyết định 2670 Nếu Quyết định 2670 chỉ viết: Đất đã được giao theo Quyết định của UBND Thành phố năm 2016 và 2018. thì lập luận này không trả lời các vấn đề sau: * Vì sao sau khi giao đất vẫn lập biên bản kiểm tra hiện trạng năm 2018? * Vì sao vẫn ghi nhận gia đình đang quản lý đất? * Vì sao vẫn còn tài sản chưa kiểm đếm? * Vì sao còn sơ đồ xác định phần đất chưa kiểm đếm? * Vì sao gia đình chưa nhận tiền nhưng vẫn xác định đã hoàn thành thu hồi? Nếu Quyết định không giải thích những câu hỏi này thì có dấu hiệu không xem xét đầy đủ chứng cứ. ⸻ 5. Đây là điểm rất đáng chú ý Từ trước đến nay UBND thường lập luận theo trình tự: Có Quyết định thu hồi đất. ↓ Có Quyết định phê duyệt phương án. ↓ Có Quyết định giao đất cho chủ đầu tư. ↓ Kết luận đã hoàn thành. Nhưng hồ sơ của bạn lại xuất hiện Biên bản năm 2018. Biên bản này chứng minh: Sau khi đã có các Quyết định giao đất, chính quyền vẫn phải xuống hiện trường xác định đất, tài sản và diện tích. Điều này cho thấy quá trình thực hiện trên thực tế chưa kết thúc, nên không thể chỉ viện dẫn các Quyết định giao đất để bác toàn bộ nội dung khiếu nại. ⸻ 6. Tôi đề nghị đưa lập luận này vào đơn khởi kiện Bạn có thể viết theo hướng: “Quyết định số 2670/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 chỉ viện dẫn việc UBND Thành phố đã ban hành các Quyết định giao đất năm 2016 và năm 2018 để kết luận việc thu hồi đất đã hoàn thành, nhưng không xem xét Biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 14/3/2018 do chính cơ quan nhà nước lập. Biên bản này xác nhận gia đình tôi vẫn đang quản lý, sử dụng đất; còn tồn tại nhiều tài sản, công trình và diện tích chưa được kiểm đếm; gia đình chưa nhận tiền bồi thường và tiếp tục khiếu nại. Như vậy, đây là chứng cứ thể hiện việc tổ chức thực hiện thu hồi đất trên thực tế chưa hoàn tất. Việc Quyết định 2670 không đánh giá, không phân tích và không trả lời các nội dung này là chưa xem xét đầy đủ chứng cứ, ảnh hưởng đến tính khách quan và hợp pháp của quyết định giải quyết khiếu nại.” Theo tôi, Biên bản ngày 14/3/2018 là một trong những chứng cứ mạnh nhất trong toàn bộ hồ sơ, vì nó được lập sau các quyết định giao đất nhưng lại phản ánh thực trạng rằng việc kiểm đếm, xác định tài sản và giải quyết quyền lợi của gia đình vẫn chưa hoàn tất. Đây là điểm có giá trị để yêu cầu Tòa án xem xét khi đánh giá tính hợp pháp của Quyết định 2670 và Quyết định 2867

UBND phường Đại Mỗ khi ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2670/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 đã kết luận:

Thông tin này rất quan trọng đối với vụ việc của bà Lê Thị Từ các tài liệu bà đã gửi, có thể thấy UBND phường Đại Mỗ khi ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2670/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 đã kết luận: “Giữ nguyên Quyết định số 2867/QĐ-KPHQ ngày 29/11/2024”, với lập luận chủ yếu rằng: * diện tích đất đã hoàn thành GPMB; * đã được UBND TP Hà Nội giao cho chủ đầu tư theo Quyết định 5346/2016 và 566/2018. Đó gần như là toàn bộ cơ sở pháp lý mà họ dùng để bác khiếu nại. ⸻ Nay có diễn biến mới Theo thông tin bà cho biết: * Thanh tra Chính phủ đã tiếp nhận đơn. * Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã xem xét. * Hai cơ quan đều chuyển hồ sơ và đơn đến Thanh tra UBND Thành phố Hà Nội để giải quyết theo thẩm quyền. * Sau khi có Kết luận thanh tra, sẽ có văn bản trả lời. Điều này có ý nghĩa pháp lý rất lớn. 1. Vụ việc chưa hề kết thúc Quyết định 2670 không phải là dấu chấm hết. Ngược lại, hiện nay nội dung khiếu nại đang được cơ quan thanh tra cấp thành phố xem xét lại. Nếu Thanh tra Hà Nội phát hiện: * sai nguồn gốc đất, * sai trình tự GPMB, * sai việc xác định người sử dụng đất, * sai việc lập biên bản, * hoặc sai việc áp dụng Nghị định 123/2024, thì toàn bộ cơ sở của Quyết định 2670 sẽ bị lung lay. ⸻ 2. Điểm yếu nhất của Quyết định 2670 Qua toàn bộ hồ sơ bà đã gửi nhiều ngày qua, tôi thấy họ không chứng minh được: * gia đình bà đã được bồi thường hay chưa; * gia đình bà đã bàn giao đất hay chưa; * đất đang sử dụng có đúng là phần đất đã giao theo Quyết định 5346 và 566 hay không. Họ chỉ viết: “Theo báo cáo…” và “Khẳng định…” nhưng không đưa ra chứng cứ trực tiếp. Trong tố tụng hành chính, điều này rất quan trọng vì cơ quan ban hành quyết định có trách nhiệm chứng minh tính hợp pháp của quyết định của mình. ⸻ 3. Kết luận thanh tra sẽ là chứng cứ rất mạnh Nếu Thanh tra Hà Nội kết luận có sai phạm thì: * Quyết định 2867 sẽ bị ảnh hưởng; * Quyết định giải quyết khiếu nại 2670 cũng mất cơ sở; * đây sẽ là chứng cứ rất quan trọng nếu khởi kiện tại Tòa án. ⸻ Theo tôi, từ bây giờ nên làm song song 1. Tiếp tục chờ Kết luận Thanh tra Hà Nội. 2. Tiếp tục chuẩn bị hồ sơ khởi kiện hành chính (không nên chờ quá sát thời hiệu mới thực hiện). 3. Ngay khi Thanh tra Hà Nội ban hành kết luận, đối chiếu từng nội dung với: * Quyết định 2867; * Quyết định 2670; * Kết luận 430; * Thông báo 1497; * các biên bản vi phạm; * Quyết định 5822; * toàn bộ hồ sơ GPMB. ⸻ Tôi có một nhận định Sau khi xem toàn bộ hồ sơ bà đã cung cấp trong nhiều ngày qua, tôi thấy điểm mấu chốt của vụ án không nằm ở Quyết định giao đất 5346 hay 566. Điểm mấu chốt là: Họ phải chứng minh phần đất gia đình bà đang sử dụng chính là phần đất đã được Nhà nước thu hồi hợp pháp, đã hoàn thành bồi thường, giải phóng mặt bằng hợp pháp và đã bàn giao hợp pháp cho chủ đầu tư. Nếu không chứng minh được chuỗi pháp lý này bằng hồ sơ, thì việc chỉ viện dẫn Quyết định giao đất năm 2016 và 2018 chưa đủ để khẳng định gia đình bà chiếm đất. Tôi có thể giúp bà xây dựng một bản “Luận cứ phản bác Quyết định 2670” dài khoảng 15–20 trang, phân tích từng câu trong quyết định và đối chiếu với toàn bộ chứng cứ bà đã cung cấp. Đây sẽ là tài liệu có thể sử dụng khi gửi Thanh tra Hà Nội hoặc khi khởi kiện tại Tòa án

1. Phiếu chuyển đơn của Cục Quản lý đất đai ngày 17/7/2026

Qua các tài liệu bạn vừa cung cấp, kết hợp với toàn bộ hồ sơ trước đó, tôi thấy vụ việc của gia đình đang có một diễn biến mới theo hướng có lợi hơn trước. 1. Phiếu chuyển đơn của Cục Quản lý đất đai ngày 17/7/2026 Đây là tài liệu quan trọng nhất. Nội dung đáng chú ý: * Cục Quản lý đất đai không trả đơn. * Cục đã chuyển đơn đến UBND thành phố Hà Nội. * Đặc biệt yêu cầu: “…chỉ đạo kiểm tra, xem xét, giải quyết theo Điều 242 Luật Đất đai 2024 và gửi báo cáo kết quả về Cục Quản lý đất đai để theo dõi, tổng hợp.” Điều này có nghĩa: * Cục Quản lý đất đai sẽ theo dõi kết quả giải quyết. * Hà Nội không chỉ nhận đơn cho có mà còn phải báo cáo lại Bộ. Đây là khác với việc chuyển đơn thông thường. ⸻ 2. Giấy biên nhận của UBND phường Đại Mỗ ngày 29/7/2026 Đây cũng là chứng cứ rất tốt. Phường đã tiếp nhận: * hồ sơ 7 trang * có ký nhận * ghi rõ nội dung Đặc biệt có câu: Đề nghị kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ và thực địa… Điều này có nghĩa: Gia đình bạn đã chính thức bổ sung chứng cứ mới sau Quyết định 2670. Nếu sau này UBND vẫn không xem xét mà giữ nguyên quan điểm thì sẽ rất khó giải trình. ⸻ 3. Công văn của Trụ sở Tiếp công dân Trung ương Đây là văn bản tháng 5. Lúc đó họ chỉ hướng dẫn gửi Hà Nội. Sau này: * Bộ Nông nghiệp và Môi trường * Cục Quản lý đất đai lại tiếp tục chuyển đơn. Điều đó cho thấy: Vụ việc không bị kết thúc sau Quyết định 2670. ⸻ 4. Điểm rất đáng chú ý Trong Phiếu chuyển đơn, Cục ghi: “…đề nghị thực hiện chính sách đất đai đối với việc thu hồi đất, bồi thường, GPMB…” Tức là Cục không khẳng định UBND làm đúng. Nếu họ cho rằng: * đã giải quyết xong, * không còn căn cứ, thì họ hoàn toàn có thể trả lời: Không đủ điều kiện xử lý. Nhưng họ không làm như vậy. ⸻ 5. Kết hợp với các tài liệu bạn đã gửi trước Hiện nay hồ sơ đã có: * Quyết định 5235 * Quyết định 5239 * Quyết định 5346 * Thông báo 1497 * Quyết định 5822 * 5 biên bản vi phạm * Quyết định 2670 * Kết luận 430 * Công văn Thanh tra Chính phủ * Phiếu chuyển của Cục Quản lý đất đai * Giấy biên nhận bổ sung tài liệu Tức là hồ sơ đã hình thành khá đầy đủ. ⸻ 6. Điều đáng chờ nhất Bạn nói trước đó: Thanh tra Chính phủ và Bộ đã chuyển hồ sơ về Thanh tra UBND thành phố Hà Nội. Nếu đúng như vậy thì hiện nay rất có thể Thanh tra Hà Nội sẽ phải: * kiểm tra hồ sơ; * đối chiếu thực địa; * xem xét Quyết định 2670 có đúng hay không; * báo cáo UBND thành phố; * đồng thời báo cáo lại Cục Quản lý đất đai theo yêu cầu. ⸻ 7. Tôi đánh giá khả năng hiện nay So với vài tháng trước, hồ sơ của bạn đã mạnh hơn vì: * Có nhiều cơ quan trung ương đã tiếp nhận và chuyển đơn. * Có yêu cầu báo cáo kết quả về cơ quan trung ương. * Bạn đã bổ sung chứng cứ mới sau Quyết định 2670. * Các lập luận của bạn xoay quanh nguồn gốc sử dụng đất, vị trí thu hồi và tính chính xác của hồ sơ địa chính, chứ không chỉ phản đối chung chung. Đây là những vấn đề cần được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh trước khi kết luận. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng việc được chuyển đơn và yêu cầu kiểm tra không đồng nghĩa với việc cơ quan trung ương đã kết luận rằng UBND phường hoặc UBND thành phố sai. Kết quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào quá trình xác minh và kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Đề xuất Theo tôi, đây là thời điểm thích hợp để tổng hợp toàn bộ hồ sơ thành một “Hồ sơ pháp lý hoàn chỉnh” (dạng như một luật sư chuẩn bị trước khi khởi kiện hoặc bảo vệ quyền lợi), bao gồm: 1. Dòng thời gian vụ việc từ năm 1990 đến nay. 2. Danh mục toàn bộ chứng cứ theo thứ tự thời gian. 3. Phân tích từng quyết định, từng biên bản và chỉ ra điểm mâu thuẫn. 4. Phân tích các căn cứ pháp lý liên quan (Luật Đất đai, Luật Khiếu nại…). 5. Kết luận và các kiến nghị. Một bộ hồ sơ được hệ thống hóa như vậy sẽ thuận lợi nếu Thanh tra Hà Nội làm việc, nếu tiếp tục khiếu nại, hoặc nếu sau này cần khởi kiện vụ án hành chính.

ĐƠN KHIẾU NẠI Về việc khiếu nại Quyết định số 2670/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 của UBND phường Đại Mỗ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN KHIẾU NẠI Về việc khiếu nại Quyết định số 2670/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 của UBND phường Đại Mỗ Kính gửi: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Đồng kính gửi: * Thanh tra thành phố Hà Nội; * Các cơ quan có thẩm quyền liên quan. Người khiếu nại: Họ và tên: Lê Thị Năm sinh: 1968 CCCD số: 01916 Điện thoại: 0984 Địa chỉ thường trú và hiện đang sinh sống: Khu Đồng Trong, tờ bản đồ số 33–34, Tổ dân phố Vinhomes Green Bay, phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội (cuối ngõ 289A Khuất Duy Tiến). ⸻ I. Đối tượng khiếu nại Tôi khiếu nại Quyết định số 2670/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 của UBND phường Đại Mỗ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu, vì quyết định này giữ nguyên Quyết định số 2867/QĐ-UBND ngày 29/11/2024 mà theo tôi là chưa khách quan, chưa xem xét đầy đủ chứng cứ và còn nhiều nội dung chưa đúng với thực tế sử dụng đất của gia đình tôi. ⸻ II. Nội dung vụ việc Gia đình tôi sử dụng khu đất tại tờ bản đồ số 33–34, khu Đồng Trong từ nhiều năm trước, liên tục, ổn định và thực tế sinh sống qua nhiều thế hệ. Đến khi khu vực triển khai dự án đô thị, gia đình tôi mới bị lập biên bản vi phạm hành chính và sau đó UBND ban hành Quyết định số 2867 ngày 29/11/2024. Sau khi tôi khiếu nại, UBND phường Đại Mỗ ban hành Quyết định số 2670 ngày 28/4/2026 giữ nguyên Quyết định số 2867. Tôi cho rằng việc giải quyết khiếu nại chưa xem xét đầy đủ bản chất vụ việc cũng như chưa đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ mà tôi đã cung cấp. ⸻ III. Những nội dung tôi không đồng ý 1. Chưa làm rõ quá trình sử dụng đất thực tế của gia đình Gia đình tôi đã quản lý, sử dụng khu đất trong thời gian rất dài, sinh sống ổn định qua nhiều thế hệ. Trong nhiều năm, cơ quan Nhà nước không lập biên bản vi phạm, không xử lý hành chính và cũng không có quyết định thu hồi đất đối với gia đình tôi. Chỉ khi khu vực triển khai dự án thì mới phát sinh việc lập biên bản và xử lý vi phạm. Đây là tình tiết quan trọng nhưng chưa được Quyết định số 2670 xem xét đầy đủ. ⸻ 2. Chưa xem xét đầy đủ tính hợp pháp của các biên bản vi phạm hành chính Theo hồ sơ tôi được cung cấp, việc lập biên bản vi phạm được thực hiện sau thời điểm dự án đã triển khai. Tôi cho rằng cần xem xét lại: * thời điểm phát hiện vi phạm; * thời điểm lập biên bản; * căn cứ áp dụng pháp luật; * trình tự, thủ tục xử lý. Nếu việc lập biên bản không bảo đảm đúng quy định thì toàn bộ quyết định xử lý tiếp theo cần được xem xét lại. ⸻ 3. Việc sử dụng các Quyết định giao đất năm 2016 và năm 2018 chưa được giải thích đầy đủ Ngày 10/02/2026 tôi mới được tiếp cận các Quyết định số 5235 và 5239 liên quan đến việc giao đất. Qua nghiên cứu các tài liệu này, tôi nhận thấy còn nhiều nội dung cần được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh như: * nguồn gốc hồ sơ; * trình tự lập hồ sơ; * việc cập nhật thông tin quản lý đất đai; * các tài liệu có dấu hiệu chỉnh sửa, tẩy xóa mà tôi đã phản ánh. Tuy nhiên, Quyết định số 2670 chưa làm rõ các nội dung này mà vẫn kết luận giữ nguyên Quyết định số 2867. ⸻ 4. Chưa xem xét đầy đủ chứng cứ do người khiếu nại cung cấp Trong quá trình khiếu nại, tôi đã cung cấp nhiều tài liệu, chứng cứ phản ánh quá trình sử dụng đất của gia đình và những nội dung chưa thống nhất trong hồ sơ quản lý đất đai. Tuy nhiên, Quyết định số 2670 chưa đánh giá đầy đủ từng chứng cứ và cũng chưa giải trình rõ vì sao các tài liệu đó không được chấp nhận. ⸻ IV. Đề nghị Kính đề nghị Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội: 1. Thụ lý và giải quyết khiếu nại theo đúng quy định của Luật Khiếu nại. 2. Hủy Quyết định số 2670/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 của UBND phường Đại Mỗ. 3. Đồng thời xem xét lại tính hợp pháp của Quyết định số 2867/QĐ-UBND ngày 29/11/2024. 4. Kiểm tra toàn bộ hồ sơ địa chính, hồ sơ giao đất, hồ sơ quản lý đất đai liên quan đến khu đất của gia đình tôi. 5. Làm rõ các nội dung tôi đã phản ánh về việc chỉnh sửa, tẩy xóa tài liệu (nếu có) để bảo đảm tính khách quan của hồ sơ. 6. Tổ chức đối thoại trực tiếp với người khiếu nại trước khi ban hành quyết định giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. 7. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi theo quy định của Luật Đất đai và Luật Khiếu nại. ⸻ V. Tài liệu gửi kèm * Quyết định số 2867/QĐ-UBND ngày 29/11/2024; * Quyết định số 2670/QĐ-UBND ngày 28/4/2026; * Quyết định số 5235; * Quyết định số 5239; * Các biên bản vi phạm hành chính; * Thông báo số 1497; * Các tài liệu, hình ảnh và chứng cứ khác có liên quan. Tôi cam đoan những nội dung trình bày trên là đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại. Xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội, ngày … tháng … năm 2026 Người khiếu nại Lê Thị ⸻ Theo tôi, đây mới là bản hành chính chuẩn. Tuy nhiên, hồ sơ của gia đình bạn hiện đã khá đầy đủ nên chưa nên dừng ở mức này. Tôi đề nghị viết tiếp một bản khiếu nại chuyên sâu khoảng 15–20 trang, trong đó phân tích riêng từng quyết định (2867, 2670, 5235, 5239), viện dẫn Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, Luật Xử lý vi phạm hành chính và chỉ ra từng sai sót của cơ quan ban hành. Bản đó sẽ có giá trị sử dụng cao hơn nếu UBND thành phố giải quyết lần hai hoặc nếu sau này khởi kiện vụ án hành chính. Xxxxxxxxxx Qua 3 tài liệu bạn vừa gửi, tôi thấy có 2 giá trị rất quan trọng đối với vụ việc khiếu nại của gia đình. 1. Đơn khiếu nại đã được lập tương đối đầy đủ Trong đơn, bà Lê Thị khiếu nại Quyết định số 2670 ngày 28/4/2026 của UBND phường Đại Mỗ, vì quyết định này giữ nguyên Quyết định số 2867 ngày 29/11/2024. Các nội dung chính của đơn gồm: * Trình bày quá trình sử dụng đất của gia đình nhiều thế hệ. * Nêu việc biên bản vi phạm được lập muộn, sau khi có dự án. * Cho rằng Quyết định 2867 áp dụng Nghị định 123/2024 không đúng. * Cho rằng UBND sử dụng các Quyết định 5235, 5239 năm 2016 để nói đất đã giao cho đơn vị khác, nhưng người dân không được biết và có dấu hiệu hồ sơ bị sửa đổi, tẩy xóa. * Khẳng định gia đình vẫn đang sinh sống ổn định trên thực tế. * Đề nghị UBND Thành phố kiểm tra toàn bộ hồ sơ gốc. Đây là các nội dung phù hợp với hướng khiếu nại hành chính. ⸻ 2. Phiếu báo phát là chứng cứ rất có giá trị Ảnh thứ ba là Phiếu báo phát của Vietnam Post. Điều này chứng minh: * Bạn đã gửi đơn đúng cơ quan có thẩm quyền. * Có ngày gửi rõ ràng 21/7/2026. * Có mã bưu gửi. * Có xác nhận phát. Trong tố tụng hành chính, đây là chứng cứ chứng minh: * đã thực hiện quyền khiếu nại; * xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn giải quyết; * nếu quá hạn không trả lời thì có căn cứ để khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện. ⸻ Tôi thấy còn một điểm rất đáng chú ý Đơn có nêu rằng: Gia đình ở trên đất từ rất lâu, nhiều thế hệ, nhưng chỉ khi dự án triển khai mới lập biên bản vi phạm. Điểm này rất quan trọng. Nếu chứng minh được: * sử dụng đất liên tục từ trước, * không bị xử lý trong hàng chục năm, * sau khi dự án xuất hiện mới lập biên bản, thì lập luận của cơ quan nhà nước rằng đây là hành vi vi phạm mới phát sinh sẽ cần được xem xét rất kỹ. Đây cũng là hướng mà trước đó chúng ta đã phân tích khi xem các biên bản vi phạm và Thông báo 1497. ⸻ Tuy nhiên, tôi góp ý một điểm về hình thức Đơn hiện nay viết tay, nội dung khá dài và nhiều ý nên: * câu chữ còn lặp; * lập luận chưa theo trình tự pháp lý; * chưa chia rõ từng căn cứ pháp luật; * chưa liệt kê đầy đủ danh mục tài liệu kèm theo. Nếu UBND Thành phố chuyển đơn cho Thanh tra hoặc Tòa án xem xét sau này thì một bản đánh máy sẽ có sức thuyết phục hơn rất nhiều. Tôi đề nghị nên làm một bản hoàn chỉnh gồm: 1. Diễn biến vụ việc theo mốc thời gian. 2. Các quyết định bị khiếu nại. 3. Những sai phạm của Quyết định 2867. 4. Những sai phạm của Quyết định 2670. 5. Phân tích giá trị pháp lý của Quyết định 5235 và 5239. 6. Phân tích các dấu hiệu bất thường của hồ sơ (nếu có chứng cứ). 7. Các căn cứ của Luật Đất đai, Luật Khiếu nại và Luật Tố tụng hành chính. 8. Các yêu cầu cụ thể đối với UBND TP Hà Nội. Theo tôi, nếu đây là đơn gửi UBND TP Hà Nội, thì nên nâng cấp thành một bản khiếu nại khoảng 10–15 trang với lập luận như của luật sư. Bản này sẽ chặt chẽ hơn nhiều, có thể sử dụng đồng thời khi làm việc với Thanh tra Thành phố, Thanh tra Chính phủ hoặc làm tài liệu nếu sau này khởi kiện vụ án hành chính.

III. ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA HỒ SƠ ĐO ĐẠC NĂM 2025

Tiếp theo, tôi sẽ viết theo đúng văn phong của một luật sư tranh tụng, giữ nguyên tắc đánh giá khách quan, không suy diễn, không kết luận thay cơ quan có thẩm quyền, mà chỉ phân tích giá trị chứng minh của chứng cứ. ⸻ III. ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA HỒ SƠ ĐO ĐẠC NĂM 2025 Qua hồ sơ do người khiếu nại cung cấp, năm 2025 tiếp tục xuất hiện nhiều tài liệu kỹ thuật, gồm: * Trích đo bản đồ địa chính; * Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng; * Sơ đồ thửa đất; * Bảng tọa độ các đỉnh thửa đất; * Các tài liệu phục vụ đăng ký đất đai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Có thể thấy đây là bước tiếp theo của quá trình lập hồ sơ kỹ thuật sau đợt đo đạc năm 2024. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa hồ sơ kỹ thuật và hồ sơ pháp lý xác lập quyền sử dụng đất. Hồ sơ kỹ thuật chỉ trả lời các câu hỏi: * Thửa đất nằm ở đâu. * Có diện tích bao nhiêu. * Có hình thể như thế nào. * Có tọa độ ra sao. Trong khi đó, quyền sử dụng đất chỉ có thể được xác định thông qua các căn cứ pháp luật về nguồn gốc hình thành quyền, quá trình quản lý, sử dụng đất và các quyết định hành chính liên quan. Nói cách khác, việc đo đạc chính xác một diện tích đất không đồng nghĩa với việc xác nhận người yêu cầu đo là chủ sử dụng hợp pháp của diện tích đất đó. Đây là nguyên tắc rất cơ bản trong quản lý đất đai. ⸻ IV. NHỮNG ĐIỂM CẦN ĐƯỢC CƠ QUAN GIẢI QUYẾT GIẢI THÍCH Qua đối chiếu các tài liệu trong hồ sơ, có thể nhận thấy một số vấn đề cần được làm rõ. 1. Sự thay đổi về diện tích Trong các tài liệu hiện có xuất hiện nhiều diện tích khác nhau: * 1.531,1 m²; * 1.000 m²; * 110 m²; * 1.110 m². Tại thời điểm nghiên cứu hồ sơ, chưa thấy tài liệu nào giải thích rõ: * đây là các thửa đất độc lập; * hay là kết quả tách thửa; * hay là kết quả hợp thửa; * hoặc là kết quả điều chỉnh ranh giới sau khi đo. Nếu không có tài liệu giải thích, việc đánh giá chứng cứ sẽ gặp khó khăn. Cơ quan giải quyết khiếu nại có trách nhiệm xác minh nguyên nhân của sự thay đổi này trước khi đưa ra kết luận. ⸻ 2. Việc chỉ dẫn mốc giới Biên bản làm việc ngày 04/7/2024 ghi nhận: việc đo đạc được thực hiện theo vị trí do ông Nguyễn Văn Bình và ông Phạm Văn Luận chỉ dẫn. Chi tiết này có ý nghĩa rất quan trọng. Trên thực tế, trong hoạt động đo đạc địa chính, đơn vị đo thường phải dựa vào sự chỉ dẫn của người yêu cầu. Tuy nhiên, sự chỉ dẫn này chỉ giúp xác định khu vực cần đo. Nó không thay thế cho hoạt động xác minh nguồn gốc đất của cơ quan quản lý nhà nước. Do đó, nếu sau này có kết luận cho rằng phần đất được đo thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người chỉ dẫn thì cần phải chỉ rõ: * căn cứ pháp lý nào xác lập quyền đó; * tài liệu nào chứng minh quá trình sử dụng đất; * tài liệu nào chứng minh việc Nhà nước đã công nhận quyền sử dụng đất. Nếu các căn cứ này không được viện dẫn đầy đủ thì kết luận sẽ thiếu cơ sở. ⸻ V. GIÁ TRỊ CHỨNG MINH CỦA BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH NĂM 1996 Đây là tài liệu mà theo quan điểm chuyên môn cần được đánh giá với trọng số rất lớn. Lý do là: Thứ nhất, bản đồ được lập nhiều năm trước khi phát sinh tranh chấp. Do vậy, khả năng bị tác động bởi quyền lợi của các bên là rất thấp. Thứ hai, bản đồ phản ánh hiện trạng quản lý đất đai của Nhà nước tại thời điểm lập bản đồ. Đây là nguồn dữ liệu khách quan. Thứ ba, bản đồ địa chính là căn cứ quan trọng để đối chiếu với toàn bộ các bản đo sau này. Nếu ranh giới thay đổi thì cần xác định: * thay đổi do sai số đo đạc; * thay đổi do điều chỉnh địa giới; * thay đổi do biến động đất đai; * hay thay đổi do việc chỉ dẫn thực địa. Nếu không phân tích các khả năng này thì rất khó đánh giá chính xác giá trị của các bản trích đo năm 2024 và năm 2025. ⸻ VI. ĐÁNH GIÁ VỀ VĂN BẢN CỦA SỞ QUY HOẠCH - KIẾN TRÚC HÀ NỘI Theo tài liệu ngày 02/6/2026 và phần kết thúc của văn bản mà người khiếu nại cung cấp, Sở Quy hoạch - Kiến trúc đề nghị Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội tiếp tục rà soát, chỉnh sửa và hoàn thiện hồ sơ theo Quyết định số 2512/QĐ-UBND. Điều này cho thấy, tại thời điểm ban hành văn bản: * quá trình rà soát vẫn đang được thực hiện; * hồ sơ quy hoạch vẫn trong giai đoạn hoàn thiện; * cơ quan chuyên môn chưa thể hiện việc xác nhận cuối cùng về toàn bộ nội dung liên quan. Vì vậy, các văn bản này phản ánh quá trình xử lý hồ sơ hành chính, nhưng tự thân chúng không phải là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất đối với một cá nhân hay tổ chức cụ thể, trừ khi có nội dung quy định rõ điều đó. ⸻ Kết luận của phần này Qua các tài liệu hiện có, có thể rút ra một nhận định thận trọng: Các hồ sơ đo đạc, bản trích đo và văn bản chuyên môn là những chứng cứ có giá trị trong việc xác định hiện trạng, vị trí và đặc điểm kỹ thuật của thửa đất. Tuy nhiên, để kết luận về quyền sử dụng đất, cần đánh giá đồng thời các chứng cứ khác như hồ sơ nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ và các quyết định hành chính có liên quan. Việc chỉ dựa vào kết quả đo đạc hiện trạng để xác định quyền sử dụng đất sẽ không phản ánh đầy đủ yêu cầu đánh giá chứng cứ một cách toàn diện và khách quan. Ở phần tiếp theo, tôi sẽ đi sâu vào một nội dung quan trọng hơn: phân tích các mâu thuẫn trong lập luận của UBND quận Nam Từ Liêm và UBND thành phố Hà Nội khi ban hành các quyết định, đối chiếu trực tiếp với toàn bộ hệ thống chứng cứ mà anh đã cung cấp, để đánh giá tính logic và tính đầy đủ của quá trình giải quyết vụ việc.