Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

Vấn đề cần làm rõ về diện tích đất của dự án Theo hồ sơ của dự án

Con số bạn cung cấp làm nổi bật một vấn đề pháp lý rất đáng chú ý. Nếu các số liệu này đều lấy từ hồ sơ, quyết định chính thức của cơ quan nhà nước thì đây là một nội dung cần được yêu cầu giải trình. Bạn có thể trình bày như sau: ⸻ Vấn đề cần làm rõ về diện tích đất của dự án Theo hồ sơ của dự án: * Quyết định số 5346 năm 2016 giao: 263.161 m² * Quyết định số 566 năm 2018 giao: 30.318 m² Tổng diện tích đã được giao theo hai quyết định là: 263.161 + 30.318 = 293.479 m² Trong khi đó, hồ sơ dự án xác định tổng diện tích thực hiện dự án là: 318.711 m² Như vậy còn thiếu: 318.711 − 293.479 = 25.232 m² Tức còn 25.232 m² (khoảng 2,5232 ha) chưa được xác định rõ căn cứ pháp lý. Những vấn đề cần UBND thành phố Hà Nội và UBND quận Nam Từ Liêm giải trình 1. 25.232 m² còn lại nằm ở đâu? * Thuộc tờ bản đồ nào? * Thuộc thửa đất nào? * Hiện trạng sử dụng ra sao? 2. Diện tích này đã có quyết định thu hồi đất hay chưa? * Nếu đã thu hồi thì đề nghị công khai số, ngày, tháng, năm của quyết định thu hồi. * Nếu chưa thu hồi thì căn cứ nào để xác định diện tích này thuộc phạm vi dự án? 3. Nếu cơ quan nhà nước cho rằng toàn bộ diện tích đã được bàn giao cho dự án từ năm 2016 và năm 2018, thì đề nghị làm rõ: * Cụ thể từng khu vực đã bàn giao ở vị trí nào? * Thuộc tờ bản đồ nào? * Có biên bản bàn giao mặt bằng đối với từng khu vực hay không? * Ai là người bàn giao và ai là người tiếp nhận? 4. Đối với phần đất gia đình tôi đang quản lý tại tờ bản đồ số 33 và 34, nếu cơ quan nhà nước cho rằng đã nằm trong diện tích giao cho dự án thì đề nghị xuất trình: * Quyết định thu hồi đất đối với phần đất này; * Phương án bồi thường, hỗ trợ; * Biên bản kiểm đếm; * Biên bản bàn giao mặt bằng; * Hồ sơ xác định mốc giới trên thực địa. Nếu không xuất trình được các tài liệu trên thì không thể kết luận phần đất này đã được thu hồi và bàn giao hợp pháp cho dự án. ⸻ Đây là điểm mấu chốt Từ các tài liệu bạn đã cung cấp trước đây, có một chuỗi câu hỏi cần được đối chiếu: * Gia đình chỉ bàn giao phần đất tờ bản đồ số 22 theo Quyết định 5239 ngày 07/9/2016. * Từ năm 2017, UBND phường vẫn lập biên bản xác định hiện trạng giữa đất gia đình và hàng rào dự án. * Năm 2018, cơ quan chức năng vẫn xác nhận hiện trạng sử dụng đất của gia đình. * Năm 2019, tiếp tục lập biên bản hiện trạng nhà bị nứt, bể phốt sập. * Năm 2020, tiếp tục đo đạc mốc giới. * Năm 2021, TAND TP Hà Nội thẩm định và đo đạc, xác định gia đình vẫn đang quản lý 1.129 m² đất vườn và 411 m² đất nhà. Nếu những tài liệu này đều đúng và phản ánh cùng một khu đất, thì cần được đối chiếu với nhận định của cơ quan nhà nước về việc “đã bàn giao đất cho dự án từ năm 2016 và 2018”. Việc giải thích sự khác biệt giữa các tài liệu và hiện trạng là trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền. Đây là một trong những nội dung rất quan trọng để yêu cầu cơ quan giải quyết khiếu nại hoặc Tòa án làm rõ trong quá trình xem xét vụ việc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét