Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

NHỮNG CON SỐ KHÔNG HỀ BIẾT NÓI DỐI

NHỮNG CON SỐ KHÔNG HỀ BIẾT NÓI DỐI Phân tích chứng cứ từ các quyết định, văn bản và hiện trạng trong vụ việc thu hồi đất tại khu Đồng Trong - Đồng Song Đống, phường Mễ Trì (nay là phường Đại Mỗ) Trong quá trình khiếu nại, tôi nhận thấy điều đáng lo ngại nhất không phải là những lời giải thích khác nhau của các cơ quan chức năng, mà là sự mâu thuẫn giữa chính các con số trong hồ sơ do Nhà nước ban hành. Con người có thể nhầm lẫn, có thể giải thích khác nhau, nhưng các con số trong quyết định hành chính thì không biết nói dối. Khi đặt các quyết định, công văn và biên bản cạnh nhau, nhiều mâu thuẫn lớn xuất hiện và đến nay vẫn chưa được bất kỳ cơ quan nào giải trình. I. Quy mô dự án là 318.711 m², nhưng quyết định giao đất chỉ có 293.479 m² Theo Công văn số 790 ngày 20/8/2015 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, diện tích thực hiện dự án tại phường Mễ Trì gồm: * Đất bãi thải Công ty Môi trường đô thị Hà Nội: 70.803 m² * Đất Xí nghiệp gạch Nam Thắng: 32.010 m² * Đất nông nghiệp do phường quản lý: 95.950 m² * Đất hồ ao: 72.477 m² * Đất giao thông: 24.296 m² * Đất thủy lợi: 22.087 m² * Đất của Tổng công ty Viglacera: 1.115 m² Tổng cộng: 318.711 m² (gần 32 ha). Tuy nhiên, diện tích được UBND thành phố Hà Nội giao đất theo hai quyết định chỉ gồm: * Quyết định số 5346 năm 2016: 263.161 m² * Quyết định số 566 năm 2018: 30.318 m² Tổng cộng chỉ là 293.479 m². Như vậy: 318.711 m² − 293.479 m² = 25.232 m² Có nghĩa là còn 25.232 m², tương đương khoảng 2,5232 ha, chưa được giải thích. Đây là một câu hỏi rất đơn giản nhưng đến nay chưa có câu trả lời: * 25.232 m² này nằm ở đâu? * Thuộc tờ bản đồ nào? * Thuộc những thửa đất nào? * Đã có quyết định thu hồi hay chưa? * Nếu chưa có quyết định thu hồi thì căn cứ pháp lý nào để xác định đây là đất của dự án? Nếu không trả lời được các câu hỏi trên thì không thể khẳng định toàn bộ diện tích dự án đã được thu hồi và giao đất hợp pháp. II. Chênh lệch diện tích đất bãi thải của Công ty Môi trường đô thị Hà Nội Ngày 05/7/2011, Công ty Môi trường đô thị Hà Nội bàn giao cho Trung tâm Phát triển quỹ đất Hà Nội: 78.114 m². Trong khi đó, Công văn số 790 ngày 20/8/2015 chỉ xác định diện tích đất bãi thải là: 70.803 m². Như vậy có sự chênh lệch: 78.114 m² − 70.803 m² = 7.311 m² (xấp xỉ hơn 7.000 m²). Khoảng chênh lệch này cũng chưa từng được giải trình: * Phần diện tích chênh lệch đang ở đâu? * Có được chuyển mục đích sử dụng không? * Có quyết định điều chỉnh nào không? * Hay đã được tính vào một khu vực khác? Đây là vấn đề cần được làm rõ bằng hồ sơ địa chính và bản đồ đo đạc. III. Quyết định 5822 vẫn chưa thu hồi toàn bộ diện tích tờ bản đồ số 34 Theo tài liệu địa chính: Tờ bản đồ số 34 có diện tích khoảng: 12.785 m². Tuy nhiên, Quyết định số 5822 ngày 22/9/2016 của UBND quận Nam Từ Liêm chỉ thu hồi tại tờ bản đồ số 34: 9.648 m². Như vậy còn khoảng: 3.137 m² không nằm trong quyết định thu hồi. Vậy diện tích còn lại thuộc phạm vi nào? Đã có quyết định thu hồi hay chưa? Nếu chưa thu hồi thì căn cứ nào để xác định đây là đất của dự án? IV. Gia đình chỉ bàn giao 2.046,17 m² nhưng đến nay vẫn bỏ hoang Theo Quyết định số 5235 ngày 07/9/2016, UBND quận Nam Từ Liêm thu hồi: 2.046,17 m². Gia đình đã nhận tiền và bàn giao mặt bằng vào tháng 11/2016. Đến nay, sau gần mười năm, phần đất này vẫn để hoang, trong khi nhiều người đã tự ý lấn chiếm, dựng công trình nhưng không bị xử lý dứt điểm. Điều này đặt ra câu hỏi: Nếu thực sự cần đất để triển khai dự án thì vì sao đất đã thu hồi lại bị bỏ không trong thời gian dài? V. Hai quyết định giao đất được công khai quá muộn Hai quyết định giao đất của UBND thành phố Hà Nội ban hành từ các năm 2016 và 2018. Tuy nhiên, theo tài liệu người dân tiếp cận được, đến ngày 04/02/2026 các quyết định này mới được công khai. Nếu đúng như vậy thì thời gian chậm công khai đã kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được biết, quyền giám sát và quyền khiếu nại của người sử dụng đất. Đây là vấn đề cần được cơ quan có thẩm quyền giải trình rõ. VI. Hồ sơ thu hồi đất có dấu hiệu nhầm lẫn vị trí Quyết định số 5239 ngày 07/9/2016 thu hồi: 227,09 m² tại tờ bản đồ số 22. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết hồ sơ sau này, gia đình phát hiện nhiều tài liệu lại thể hiện nội dung liên quan đến tờ bản đồ số 33 và 34, kèm theo dấu hiệu tẩy xóa, sửa chữa vị trí và diện tích. Nếu tài liệu gốc đúng như phản ánh thì đây là dấu hiệu cần được kiểm tra, đối chiếu bản chính để xác định có hay không việc chỉnh sửa hồ sơ sau khi ban hành. VII. Chuỗi biên bản hiện trạng phủ nhận nhận định “đã bàn giao đất” Nếu cơ quan nhà nước cho rằng khu đất đã bàn giao cho dự án từ năm 2016 và 2018 thì vì sao sau đó vẫn liên tục lập các biên bản xác nhận hiện trạng sử dụng đất của gia đình? * Ngày 17/6/2017, UBND phường Mễ Trì và cán bộ dự án lập biên bản xác định khu nhà đất của gia đình vẫn giáp hàng rào tôn của dự án đang thi công. * Ngày 14/3/2018, UBND quận Nam Từ Liêm và Trung tâm Phát triển quỹ đất Hà Nội lập biên bản hiện trạng, xác định nhà giáp lũy rác, giáp trạm điện E20, có đường bê tông tôn tạo và ghi nhận khu vực chưa kiểm đếm. * Sau khi đơn vị thi công phá lũy rác để đào hồ điều hòa, nền đất bị sạt lở làm sập bể phốt và nứt tường nhà. * Ngày 26/9/2019, UBND phường Mễ Trì cùng đại diện dự án tiếp tục lập biên bản hiện trạng ghi nhận thiệt hại. Nếu đất đã được thu hồi và bàn giao từ năm 2016 thì việc các cơ quan nhà nước tiếp tục xác lập hiện trạng sử dụng đất của gia đình trong các năm 2017, 2018 và 2019 là vấn đề cần được giải thích. VIII. Kiến nghị Từ các tài liệu nêu trên, tôi kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền: 1. Công khai đầy đủ hồ sơ thu hồi và giao đất đối với toàn bộ diện tích 318.711 m². 2. Làm rõ căn cứ pháp lý của 25.232 m² chưa được thể hiện trong hai quyết định giao đất. 3. Làm rõ phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất bãi thải đã bàn giao năm 2011 và diện tích xác định trong Công văn số 790 năm 2015. 4. Giải thích vì sao các biên bản hiện trạng từ năm 2017 đến năm 2019 vẫn xác nhận gia đình đang quản lý, sử dụng đất nếu cơ quan nhà nước cho rằng đất đã được bàn giao từ năm 2016. 5. Kiểm tra tính chính xác của hồ sơ liên quan đến Quyết định số 5239 và các tài liệu có dấu hiệu nhầm lẫn hoặc sửa chữa về tờ bản đồ, vị trí và diện tích. Một quyết định hành chính có thể được giải thích theo nhiều cách. Một lời trình bày có thể có những cách hiểu khác nhau. Nhưng các con số trong hồ sơ địa chính, trong quyết định thu hồi đất, trong quyết định giao đất và trong các biên bản do chính cơ quan nhà nước lập thì không biết nói dối. Khi những con số ấy mâu thuẫn với nhau, cơ quan ban hành có trách nhiệm giải thích bằng chứng cứ khách quan. Chỉ khi các mâu thuẫn này được làm rõ thì quyền và lợi ích hợp pháp của người dân mới được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Lưu ý: Trong bài trên, tôi giữ cách diễn đạt ở mức phân tích chứng cứ và nêu các dấu hiệu cần được làm rõ, tránh khẳng định chắc chắn có hành vi “làm giả hồ sơ” hoặc “gian dối” khi chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Cách trình bày này sẽ có giá trị pháp lý và sức thuyết phục cao hơn khi sử dụng trong hồ sơ khiếu nại hoặc tại Tòa án.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét