Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026

III. Diễn biến vụ việc và các mâu thuẫn trong hồ sơ quản lý đất đai

Những thông tin bạn vừa trình bày rất quan trọng. Tôi nhận thấy trong đó có một chuỗi sự kiện liên tục từ năm 2016 đến năm 2024, đồng thời xuất hiện nhiều mâu thuẫn nội tại trong hồ sơ của chính cơ quan nhà nước. Nếu viết dưới góc độ luật sư, tôi sẽ hệ thống lại thành các nhóm vấn đề như sau. ⸻ III. Diễn biến vụ việc và các mâu thuẫn trong hồ sơ quản lý đất đai 1. Diện tích dự án và diện tích đã được thu hồi không thống nhất Theo hồ sơ dự án thể thao, tổng diện tích thực hiện dự án khoảng hơn 31 ha (khoảng 320.000 m²). Trong khi đó, hai Quyết định của UBND thành phố Hà Nội năm 2016 và năm 2018 (trong đó có Quyết định số 5346) cộng lại chỉ thể hiện diện tích khoảng hơn 29 ha. Như vậy còn thiếu khoảng trên 20.000 m² (hơn 2 ha) chưa được giải thích rõ: * thuộc phần diện tích nào; * đã có quyết định thu hồi hay chưa; * nếu đã thu hồi thì quyết định nào; * nếu chưa thu hồi thì căn cứ pháp lý nào để đưa vào phạm vi dự án. Đây là một khoảng trống pháp lý rất lớn cần phải được cơ quan có thẩm quyền giải thích. ⸻ 2. Gia đình chỉ bàn giao phần đất thuộc tờ bản đồ số 22 Ngày 07/9/2016, UBND quận Nam Từ Liêm ban hành Quyết định số 5239 thu hồi diện tích 227,09 m² thuộc tờ bản đồ số 22. Gia đình đã: * nhận tiền bồi thường; * bàn giao mặt bằng vào tháng 11/2016. Việc bàn giao này chỉ liên quan đến tờ bản đồ số 22. ⸻ 3. Hồ sơ sau đó lại chuyển từ tờ bản đồ số 22 sang tờ bản đồ số 33 và 34 Sau khi kiểm tra hồ sơ, gia đình phát hiện: * nhiều tài liệu ban đầu ghi tờ bản đồ số 22; * sau đó lại chuyển thành tờ bản đồ số 33, 34; * trên tài liệu xuất hiện dấu hiệu tẩy xoá, đóng dấu chồng chéo, sửa chữa. Nếu đúng như hồ sơ thể hiện thì đây là dấu hiệu rất nghiêm trọng, bởi: * đối tượng bị thu hồi đất đã bị thay đổi; * vị trí thửa đất bị thay đổi; * phạm vi thu hồi đất không còn đúng như quyết định ban đầu. Đây là nội dung cần được giám định toàn bộ hồ sơ gốc. ⸻ IV. Thực tế sử dụng đất hoàn toàn trái ngược với kết luận “đã bàn giao” Nếu cơ quan nhà nước cho rằng đất đã giao cho dự án từ năm 2016 thì diễn biến thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Ngày 17/6/2017 Khi dự án thi công đào hồ điều hòa, UBND phường Mễ Trì cùng cán bộ dự án đã lập Biên bản hiện trạng. Biên bản xác định: * phía Tây khu vườn của gia đình vẫn tiếp giáp hàng rào tôn của dự án; * dự án thi công ở phía trong hàng rào; * gia đình vẫn đang quản lý và sử dụng phần đất phía ngoài. Điều này chứng minh rằng: đến năm 2017 khu đất của gia đình vẫn tồn tại độc lập với khu đất dự án. Nếu đất đã được bàn giao từ năm 2016 thì không có lý do gì năm 2017 cơ quan chức năng vẫn phải lập biên bản xác định ranh giới giữa đất gia đình và đất dự án. ⸻ V. Sự cố sạt lở do dự án thi công Trong quá trình đào hồ điều hòa, đơn vị thi công đã: * phá bỏ bờ lũy rác cũ; * đào sát ranh giới; * làm sụt đất. Hậu quả: * bể phốt bị sập; * tường nhà bị nứt; * nền đất bị ảnh hưởng. Gia đình nhiều lần gửi đơn yêu cầu giải quyết. Ngày 26/9/2019, UBND phường Mễ Trì cùng cán bộ dự án đã lập Biên bản hiện trạng. Biên bản ghi nhận đầy đủ: * vị trí bể phốt bị sập; * chiều dài vết nứt; * chiều rộng vết nứt; * hiện trạng ngôi nhà. Đây là chứng cứ khách quan xác nhận: đến năm 2019 gia đình vẫn đang quản lý, sử dụng nhà đất tại vị trí này. ⸻ VI. Các lần kiểm tra tiếp tục khẳng định gia đình vẫn sử dụng đất Ngày 05/9/2020 Đơn vị đo đạc đến kiểm tra mốc giới. Gia đình còn lưu video ghi lại toàn bộ quá trình. Điều này cho thấy: nếu đất đã bàn giao từ năm 2016 thì không cần tiếp tục xác định tọa độ và mốc giới năm 2020. ⸻ Ngày 01/12/2021 Theo yêu cầu của TAND thành phố Hà Nội, Tòa án cùng các cơ quan chuyên môn tiến hành: * thẩm định tại chỗ; * đo đạc; * đối chiếu bản đồ địa chính. Kết quả đo thể hiện: * diện tích vườn còn khoảng 1.129 m²; * diện tích khu nhà khoảng 411 m². Các mốc ranh giới với Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội vẫn tồn tại. Đây là chứng cứ rất quan trọng vì được lập trong quá trình tố tụng và có sự tham gia của nhiều cơ quan. ⸻ Năm 2018 Trong quá trình giải quyết khiếu nại, UBND quận Nam Từ Liêm và Trung tâm Phát triển quỹ đất đã trực tiếp xác nhận: ngoài diện tích nhà và vườn, gia đình còn quản lý phần đường đi từ trạm điện vào khu Đồng Song Đống theo hiện trạng sử dụng từ năm 2003. Biên bản này tiếp tục khẳng định cơ quan nhà nước vẫn thừa nhận hiện trạng sử dụng đất của gia đình sau năm 2016. ⸻ VII. Mâu thuẫn đặc biệt trong Quyết định 2867 Ngày 02/5/2022, UBND phường Mễ Trì lập Biên bản kiểm tra hiện trạng. Nội dung biên bản chỉ ghi nhận: * gia đình sửa chữa nhà; * nguyên nhân do bể phốt bị sập và tường bị nứt; * trước đó gia đình đã gửi đơn nhưng chưa được giải quyết. Đây không phải biên bản vi phạm hành chính. Tuy nhiên đến 29/11/2024, UBND quận Nam Từ Liêm lại sử dụng chính biên bản này để ban hành Quyết định số 2867, xử phạt theo Nghị định 123/2024. Điều này phát sinh ít nhất ba vấn đề pháp lý: 1. Biên bản hiện trạng không phải là biên bản vi phạm hành chính nên không thể làm căn cứ xử phạt. 2. Thời gian từ ngày 02/5/2022 đến ngày 29/11/2024 đã hơn 30 tháng, vượt rất xa thời hạn xử lý vi phạm hành chính theo quy định. 3. Nội dung biên bản xác định việc sửa chữa xuất phát từ thiệt hại do dự án gây ra, không phải hành vi xây dựng trái phép mới phát sinh. ⸻ Theo đánh giá của tôi, toàn bộ chuỗi sự kiện từ 2016–2024 đang hình thành một hệ thống chứng cứ rất mạnh. Điểm cốt lõi không chỉ là một quyết định xử phạt sai, mà là sự mâu thuẫn giữa hồ sơ hành chính với hiện trạng thực tế và các biên bản do chính cơ quan nhà nước lập qua nhiều năm. Đây sẽ là một trong những trọng tâm quan trọng để lập luận trong hồ sơ khiếu nại và nếu cần thì trong vụ án hành chính đối với Quyết định 2867 và Quyết định 2670.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét