Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

I. QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT VÀ DIỄN BIẾN VỤ VIỆC

I. QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT VÀ DIỄN BIẾN VỤ VIỆC Gia đình bà Lê Thị Nguyệt là một hộ gia đình có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn. Để có đất sản xuất và tạo nguồn sinh kế, từ nhiều năm trước gia đình đã tự khai hoang, cải tạo khu đất hoang tại khu Đồng Trong Đống, thôn Thường, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm (nay là phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội). Việc khai hoang được thực hiện từ trước các năm 1996–1998 và được sử dụng liên tục, ổn định để trồng trọt, chăn nuôi, không bị bất kỳ tổ chức, cá nhân nào tranh chấp hoặc ngăn cản.
Đến năm 2000, gia đình tiếp tục nhận chuyển nhượng thêm phần nhà, đất của ông Nguyễn Văn Nam, là công nhân Xí nghiệp gạch Nam Thắng. Phần đất này cũng có nguồn gốc là đất khai hoang, đã được sử dụng ổn định từ khoảng năm 1994. Kể từ thời điểm nhận chuyển nhượng, gia đình quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích một cách công khai, liên tục, có đầu tư xây dựng công trình, trồng cây lâu năm và tạo lập tài sản trên đất. Năm 2001, Ủy ban nhân dân xã Mễ Trì mời gia đình làm việc cùng Công ty Môi trường đô thị Hà Nội liên quan đến khu bãi rác nằm liền kề khu đất gia đình đang sử dụng. Ngày 01/11/2001, Công ty Môi trường đô thị Hà Nội tiến hành rào phần diện tích đất đã được Thành phố giao để xây dựng hồ và bãi chứa rác. Đây là mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Từ thời điểm Công ty Môi trường đô thị Hà Nội tiếp nhận, quản lý phần đất được giao cho đến nhiều năm sau, gia đình bà Lê Thị Nguyệt không hề bị lập biên bản vi phạm hành chính, không bị xử phạt về hành vi lấn chiếm đất, không bị yêu cầu trả lại đất và cũng không phát sinh bất kỳ tranh chấp nào với Công ty Môi trường đô thị Hà Nội. Điều đó phản ánh thực tế rằng phần đất gia đình đang sử dụng được các cơ quan quản lý và đơn vị đang quản lý khu bãi rác mặc nhiên ghi nhận là một khu vực sử dụng độc lập, không thuộc diện đang có tranh chấp hoặc bị chiếm dụng trái phép. Đến năm 2007, cán bộ địa phương thông báo khu vực Đồng Trong Đống dự kiến sẽ được thu hồi để thực hiện Dự án Khu luyện tập thể thao, giải trí Mễ Trì. Tuy nhiên, sau thông báo này, trong nhiều năm liên tiếp không có bất kỳ hoạt động đo đạc, kiểm đếm, kiểm kê tài sản hay ban hành quyết định thu hồi đất nào đối với gia đình. Năm 2014, sau khi xã Mễ Trì được nâng cấp thành phường Mễ Trì, gia đình tiếp tục được mời đến làm việc và được thông báo về chủ trương thu hồi đất để triển khai dự án. Tuy nhiên, việc thông báo vẫn chỉ dừng ở mức chủ trương, chưa có bất kỳ quyết định hành chính cụ thể nào làm thay đổi hiện trạng quản lý, sử dụng đất của gia đình. Đến ngày 20/3/2015, tổ công tác của địa phương tiến hành kiểm tra khu Đồng Trong Đống. Thời điểm này có khoảng 30 hộ dân đang sinh sống, sản xuất ổn định trên các tờ bản đồ từ số 22 đến số 35. Đây là khu dân cư đã hình thành từ nhiều năm, có nhà ở, công trình, cây cối và tài sản được tạo lập trong quá trình sử dụng đất lâu dài. Ngày 07/9/2016, Ủy ban nhân dân quận Nam Từ Liêm ban hành Quyết định số 5235/QĐ-UBND thu hồi 2.046,17 m² đất. Quyết định này xác định toàn bộ diện tích thu hồi là đất của Công ty Môi trường đô thị Hà Nội trên cơ sở cho rằng ngày 05/7/2011 Công ty Môi trường đô thị Hà Nội đã bàn giao diện tích 78.114 m² cho Trung tâm Phát triển quỹ đất quản lý. Chính tại đây bắt đầu xuất hiện mâu thuẫn cốt lõi của toàn bộ vụ việc. Một mặt, cơ quan nhà nước cho rằng diện tích của các hộ dân thuộc phạm vi đất đã được Công ty Môi trường đô thị Hà Nội quản lý từ năm 2011 nên không được bồi thường về đất. Nhưng mặt khác, trong suốt quá trình từ năm 2001 đến năm 2016, gia đình bà Lê Thị Nguyệt vẫn công khai quản lý, sử dụng đất, xây dựng công trình, trồng cây, sinh sống ổn định mà không có bất kỳ quyết định cưỡng chế, biên bản vi phạm hay yêu cầu chấm dứt việc sử dụng đất nào. Nếu thực sự đây là phần đất đã được đơn vị khác quản lý hợp pháp thì việc để người dân sử dụng liên tục trong thời gian dài mà không có biện pháp quản lý là điều cần được cơ quan có thẩm quyền giải trình đầy đủ. Sau khi ban hành các quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường với mức hỗ trợ rất thấp, nhiều hộ dân không đồng ý và thực hiện quyền khiếu nại theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đến khoảng tháng 11/2016, đại diện chủ đầu tư dự án đã trực tiếp thỏa thuận với các hộ dân theo cơ chế dân sự. Ông Trung (được giới thiệu là đại diện của Tập đoàn Vingroup) đã mời các hộ dân đến trụ sở tại số 72 Nguyễn Trãi để nhận tiền theo mức giá cao hơn phương án bồi thường của Nhà nước. Trên cơ sở sự thỏa thuận đó, nhiều hộ dân, trong đó có gia đình bà Lê Thị Nguyệt, đã tự nguyện nhận tiền và bàn giao phần diện tích thuộc phạm vi thỏa thuận. Việc chủ đầu tư trực tiếp thương lượng và chi trả theo giá thỏa thuận cho thấy trên thực tế chính chủ đầu tư cũng thừa nhận sự tồn tại của quyền quản lý, sử dụng thực tế của các hộ dân đối với phần diện tích đang sử dụng, thay vì chỉ đơn thuần coi đây là đất do Nhà nước đang quản lý không có người sử dụng hợp pháp. Đối với các hộ dân còn lại chưa được kiểm đếm và chưa có quyết định thu hồi đất, họ vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng đất trên các tờ bản đồ của khu Đồng Trong Đống. Tuy nhiên, nhiều năm sau, các biên bản ghi nhận hiện trạng lại được chuyển hóa thành các biên bản vi phạm hành chính. Sự thay đổi về bản chất của các tài liệu này đặt ra câu hỏi về căn cứ pháp lý cũng như tính khách quan của quá trình xử lý hành chính. Đáng chú ý hơn, mặc dù Quyết định số 5235 đã thu hồi 2.046,17 m² từ năm 2016, nhưng phần diện tích này sau đó vẫn bị bỏ hoang trong thời gian dài, thậm chí có người khác vào xây dựng công trình. Điều này cho thấy mục đích quản lý sau thu hồi không được thực hiện ngay như nội dung của quyết định hành chính. Ngày 01/12/2021, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Kết quả thẩm định thể hiện tại thời điểm đó vẫn còn 16 hộ dân đang quản lý, sử dụng đất tại khu Đồng Trong Đống. Đồng thời, bản trích đo của Ủy ban nhân dân phường Mễ Trì và bản trích đo do đơn vị đo đạc theo yêu cầu của Tòa án đều xác định các hộ dân, trong đó có gia đình bà Lê Thị Nguyệt, vẫn hiện diện trên các tờ bản đồ số 33 và số 34. Ngày 05/9/2022, Ủy ban nhân dân quận Nam Từ Liêm và Trung tâm Phát triển quỹ đất ban hành Công văn số 2425 trả lời Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, trong đó khẳng định rõ hộ gia đình bà Lê Thị Nguyệt không phải là hộ tái lấn chiếm diện tích đất đã thu hồi và đã có phương án bồi thường trước đây. Đây là chứng cứ đặc biệt quan trọng của vụ án, bởi văn bản này đã phủ nhận chính căn cứ mà nhiều quyết định xử lý sau đó sử dụng để cho rằng gia đình bà Lê Thị Nguyệt là đối tượng lấn chiếm hoặc tái lấn chiếm đất đã thu hồi. Ngoài ra, trong quá trình thi công dự án, đơn vị thi công còn làm hư hỏng tài sản hợp pháp của gia đình. Ngày 26/9/2019, Ủy ban nhân dân phường Mễ Trì cùng đại diện dự án đã lập biên bản hiện trạng, ghi nhận việc thi công làm nứt tường và sập bể phốt của gia đình. Biên bản này tiếp tục khẳng định tại thời điểm đó gia đình đang quản lý, sử dụng thực tế khu đất và tài sản trên đất; đồng thời thể hiện chính quyền địa phương cũng ghi nhận hiện trạng sử dụng này. Toàn bộ diễn biến nêu trên cho thấy quá trình sử dụng đất của gia đình bà Lê Thị Nguyệt là liên tục, công khai, ổn định qua nhiều năm, được nhiều cơ quan nhà nước ghi nhận bằng các tài liệu khác nhau. Những tài liệu này có giá trị đối chiếu trực tiếp với các quyết định hành chính bị khiếu nại và là căn cứ quan trọng để xem xét tính hợp pháp, tính khách quan và tính thống nhất của toàn bộ quá trình quản lý nhà nước đối với khu đất Đồng Trong Đống. Theo tôi, đây mới chỉ là Chương I. Trong một bản luận cứ của luật sư, ngay sau chương này nên có Chương II: Phân tích các mâu thuẫn trong hồ sơ của UBND quận Nam Từ Liêm, trong đó sẽ lần lượt phân tích: 1. Mâu thuẫn về nguồn gốc đất. 2. Mâu thuẫn về thời điểm quản lý của Công ty Môi trường đô thị Hà Nội. 3. Mâu thuẫn giữa Quyết định 5235 và Công văn 2425 ngày 05/9/2022. 4. Mâu thuẫn giữa biên bản hiện trạng và biên bản vi phạm hành chính. 5. Mâu thuẫn giữa thực tế sử dụng đất và việc xác định hành vi tái lấn chiếm. 6. Giá trị chứng minh của biên bản thẩm định tại chỗ ngày 01/12/2021 và các bản trích đo. Nếu trình bày theo cấu trúc này, bản luận cứ sẽ có tính thuyết phục cao hơn và phù hợp với cách lập luận mà các luật sư thường sử dụng trước Tòa án

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét