Một quá trình thăng trầm của cuộc đời/Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo !
Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2026
Kết luận 430 vừa có điểm rất bất lợi cho gia đình bà Lê Thị vừa có một số điểm cực kỳ có lợi mà nếu khai thác đúng sẽ trở thành chứng cứ rất mạnh. ⸻
Tôi đã đối chiếu Kết luận nội dung tố cáo số 430/KL-UBND ngày 28/5/2025 của UBND quận Nam Từ Liêm với các tài liệu trước đây mà bạn đã cung cấp, gồm:
* Quyết định 5822/QĐ-UBND ngày 22/9/2016 về thu hồi đất.
* Quyết định 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016.
* Quyết định 566/QĐ-UBND ngày 30/01/2018.
* Kết luận 1482/KL-UBND của UBND phường Mễ Trì.
* Thông báo 1497/TB-UBND.
* Các biên bản vi phạm hành chính.
* Các ảnh thực địa và hồ sơ địa chính.
Sau khi phân tích, tôi thấy Kết luận 430 vừa có điểm rất bất lợi cho gia đình bà Lê Thị vừa có một số điểm cực kỳ có lợi mà nếu khai thác đúng sẽ trở thành chứng cứ rất mạnh.
⸻
I. Điều quan trọng nhất
Đọc kỹ toàn bộ Kết luận 430 sẽ thấy:
UBND quận KHÔNG kết luận rằng gia đình bà Ng. lấn chiếm đất.
Họ chỉ kết luận:
Không có căn cứ chứng minh hơn 800m² đất gia đình bà Nguyệt nằm ngoài phạm vi thu hồi.
Đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Họ không chứng minh được đất của gia đình.
Nhưng họ cũng không chứng minh được đất đó đã được thu hồi hợp pháp.
Đó là điểm rất quan trọng.
⸻
II. Sai sót rất lớn của Kết luận 430
UBND quận lập luận như sau:
Bản đồ năm 1994 thể hiện thửa 01 diện tích 12.785m².
Sau đó nói:
Quyết định 5822 thu hồi 9.648m².
Rồi suy ra:
Gia đình không còn quyền.
Đây là lập luận có khoảng trống pháp lý rất lớn.
Bởi vì:
12.785m²
không bằng
9.648m²
Thiếu:
3.137m²
Chính Kết luận 430 cũng ghi rõ:
3.137m² thu hồi cho Trạm biến áp 110kV Thanh Xuân.
Như vậy:
12.785
=
9.648
3.137
= 12.785
Con số khớp.
Nhưng:
Gia đình bà Ng. đang ở khu vực nào?
Đó mới là điều phải chứng minh.
Không thể chỉ cộng trừ diện tích rồi kết luận.
⸻
III. Họ chưa chứng minh vị trí
Đây là điểm yếu nhất.
Muốn bác quyền sử dụng đất của gia đình bà Nguyệt thì phải chứng minh:
Khu đất đang ở
=
thuộc phần 9.648m²
hay
thuộc phần 3.137m²
hay
ngoài cả hai.
Nhưng Kết luận 430 không có:
* bản đồ chồng ghép;
* tọa độ;
* mốc giới;
* sơ đồ đo đạc.
Không có gì cả.
Đó là thiếu sót nghiêm trọng.
⸻
IV. Mâu thuẫn lớn nhất
Trang 5 ghi:
Người tố cáo không có giấy tờ theo Điều 137 Luật Đất đai 2024.
Điều này không đồng nghĩa với:
không có quyền sử dụng đất.
Bởi vì:
Điều 137 chỉ là một căn cứ.
Người dân còn có thể chứng minh bằng:
* sử dụng ổn định;
* trước năm 1993;
* trước năm 1990;
* nhân chứng;
* nộp thuế;
* hộ khẩu;
* điện nước;
* cây lâu năm;
* tài sản trên đất.
Nhưng Kết luận 430 gần như bỏ qua toàn bộ quá trình sử dụng thực tế mà gia đình bạn trình bày.
⸻
V. Điểm có lợi rất lớn
Đây là câu quan trọng nhất.
Trang 5 ghi:
Chủ tịch UBND phường Mễ Trì chưa tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ nội dung tố cáo xây dựng trái phép.
Sau đó kết luận:
Nội dung này chưa được xác minh nhưng đã kết luận là không có cơ sở.
Đây là sai phạm tố tụng rất rõ.
UBND quận cũng phải thừa nhận.
⸻
Sau đó họ yêu cầu:
UBND phường Mễ Trì phải thụ lý giải quyết tố cáo lại.
Điều này cực kỳ quan trọng.
Nó có nghĩa:
Kết luận cũ của phường là thiếu căn cứ.
⸻
VI. UBND quận đã thừa nhận có công trình
Trang 2 ghi rõ hiện trạng:
Có:
* trạm điện
* container 40 feet
* vườn ươm
Điều này có nghĩa:
UBND quận xác nhận:
Các công trình tồn tại thật.
Không thể nói người dân tố cáo bịa đặt.
⸻
VII. Sai sót lớn về chứng cứ
Họ dựa vào:
Biên bản kiểm đếm năm 2010.
Trong đó ghi:
đất trống.
Nhưng gia đình bạn luôn trình bày:
* sử dụng từ trước năm 1990;
* nhà cửa, cây cối, vườn tược tồn tại nhiều năm;
* đến khi Vingroup triển khai dự án mới phát sinh tranh chấp.
Nếu đúng như vậy thì cần làm rõ:
* Biên bản 2010 kiểm đếm ở đúng vị trí đất gia đình hay ở phần đất khác?
* Gia đình có được thông báo kiểm đếm không?
* Có ký biên bản không?
* Có tham gia không?
Nếu không chứng minh được các điểm này thì giá trị chứng minh của biên bản sẽ bị giảm đáng kể.
⸻
VIII. Điểm mâu thuẫn với Quyết định 5822
Trong Quyết định 5822:
không hề mô tả:
* vị trí đất gia đình bà Nguyệt;
* ranh giới khu đất gia đình;
* bản đồ chồng ghép.
Nhưng Kết luận 430 lại khẳng định:
Gia đình nằm trong diện tích thu hồi.
Đó là kết luận suy diễn nếu không có hồ sơ kỹ thuật đi kèm.
⸻
IX. Điểm mạnh nhất để khởi kiện
Nếu tôi là luật sư bảo vệ gia đình bà Nguyệt, tôi sẽ tập trung vào bốn luận điểm:
1. Không có bản đồ chồng ghép chứng minh phần đất gia đình thuộc diện tích bị thu hồi.
2. Không xác định được ranh giới ngoài thực địa giữa diện tích 9.648m², 3.137m² và khu đất gia đình đang sử dụng.
3. UBND phường đã kết luận khi chưa xác minh nội dung tố cáo về xây dựng trái phép; chính UBND quận đã yêu cầu phải giải quyết lại.
4. Việc phủ nhận quyền sử dụng đất của gia đình chỉ dựa trên việc “không có giấy tờ” mà chưa đánh giá đầy đủ quá trình sử dụng đất ổn định từ trước là chưa toàn diện.
Đánh giá tổng thể
Đây là một tài liệu không hoàn toàn bất lợi như nhiều người có thể nghĩ. Ngược lại, nếu đặt cạnh Quyết định 5822, Thông báo 1497, Kết luận 1482 và các biên bản vi phạm, Kết luận 430 còn bộc lộ những khoảng trống chứng cứ và mâu thuẫn về trình tự xác minh.
Theo tôi, đây là một trong những tài liệu quan trọng nhất của hồ sơ, vì chính UBND quận đã thừa nhận có thiếu sót trong việc giải quyết tố cáo về hành vi xây dựng trái phép và buộc UBND phường phải thụ lý, giải quyết lại nội dung này. Đồng thời, tài liệu cũng cho thấy cơ quan ban hành chưa chỉ ra được chứng cứ kỹ thuật (bản đồ, tọa độ, mốc giới, sơ đồ chồng ghép) để xác định chính xác phần đất gia đình đang sử dụng nằm trong diện tích nào của các quyết định thu hồi.
Từ các tài liệu bạn đã cung cấp trong nhiều ngày qua, tôi cho rằng có thể xây dựng một bản “Luận cứ phản biện Kết luận 430/KL-UBND” dài khoảng 15–20 trang, phân tích từng đoạn, chỉ ra từng mâu thuẫn với Quyết định 5822, Thông báo 1497, các biên bản vi phạm và toàn bộ hồ sơ địa chính. Đây sẽ là tài liệu có thể sử dụng làm căn cứ khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét