Một quá trình thăng trầm của cuộc đời/Thấy đồng loại đau khổ mà vẫn vui chơi là đồ bất lương. Còn sức khỏe, trí lực mà tìm chỗ ẩn cư thì cũng là phường vô đạo !
Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026
5 TÀI LIỆU MỚI VÀ GIÁ TRỊ CHỨNG CỨ ĐỐI VỚI VỤ NGUYỄN VĂN BÌNH
5 giấy tờ anh vừa bổ sung làm hồ sơ vụ Nguyễn Văn Bình rõ hơn rất nhiều, và đặc biệt có một điểm mới rất quan trọng: nguồn gốc khu đất phải được truy ngược ít nhất từ Quyết định 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990 và Quyết định 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992, chứ không thể chỉ bắt đầu từ Quyết định 5346 năm 2016.
Tôi cập nhật lại hồ sơ như sau.
CHƯƠNG XV
5 TÀI LIỆU MỚI VÀ GIÁ TRỊ CHỨNG CỨ ĐỐI VỚI VỤ NGUYỄN VĂN BÌNH
I. Văn bản số 410/BDN ngày 24/11/2020 của Ban Dân nguyện – Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Đây là tài liệu rất có giá trị vì nó ghi nhận nội dung trình bày của chính ông Nguyễn Văn Bình trong một văn bản của cơ quan Quốc hội.
Văn bản ghi ông Bình là người sử dụng diện tích 2.815,3 m² từ năm 1997, không có tranh chấp, đã xây dựng nhà ở, xưởng sửa chữa ô tô, trồng cây và nuôi cá; đồng thời có xác nhận của UBND phường Mễ Trì về việc sử dụng đất trước năm 2003. Đấu Tranh Đất Đai: Quyết Định 5346.png
Đáng chú ý hơn, văn bản ghi:
* Năm 2016 UBND quận Nam Từ Liêm ban hành quyết định thu hồi 384,9 m² ghi là đất của Công ty TNHH MTV Môi trường;
* ông Bình cho rằng diện tích đó thực tế là đất của gia đình;
* đối với 2.434,4 m² còn lại, gia đình vẫn đang sử dụng nhưng không có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc thu hồi;
* gia đình chưa ký biên bản bàn giao nhưng phần đất đã được bàn giao cho dự án Vinhomes;
* ông Bình cho rằng việc thu hồi như vậy gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của gia đình.
Đây là một tài liệu cần đưa vào nhóm chứng cứ về quá trình khiếu nại và tranh chấp hành chính từ trước năm 2020.
⸻
II. Văn bản số 409/BDN ngày 24/11/2020 còn quan trọng hơn ở một điểm khác
Văn bản này ghi nhận:
Ông Nguyễn Văn Bình sử dụng 2.815,3 m² đất từ năm 1997.
Sau đó chia thành:
384,9 m² + 2.434,4 m² = 2.819,3 m².
Ở đây xuất hiện một điểm số học cần kiểm tra lại ngay:
2.815,3 − 384,9 = 2.430,4 m², chứ không phải 2.434,4 m².
Như vậy trong hồ sơ đang có khả năng tồn tại sai lệch 4,0 m² giữa các số liệu được ghi nhận.
Đây là một chi tiết nhỏ nhưng trong hồ sơ đất đai lại rất quan trọng.
Tôi đề nghị không tự sửa số liệu.
Trong hồ sơ chính thức phải ghi:
“Văn bản số 409/BDN ghi nhận diện tích 2.815,3 m² và diện tích còn lại 2.434,4 m²; đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu lại số liệu diện tích trong hồ sơ địa chính và hồ sơ thu hồi đất.”
Như vậy chúng ta không tự nhận lỗi số liệu mà yêu cầu cơ quan quản lý xác minh.
⸻
III. Văn bản số 303/UBND-TTPTQĐ ngày 17/12/2018 là một chứng cứ cực kỳ quan trọng
Đây có lẽ là tài liệu mới quan trọng nhất.
UBND quận Nam Từ Liêm gửi Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và nêu rõ:
Dự án đã được phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với 310.425,9 m²/117.879.829.838 đồng.
Nhưng:
“Tuy nhiên còn tồn tại 01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và bàn giao mặt bằng.”
Đây là câu phải được đưa vào trung tâm của hồ sơ.
Bởi vì nó cho thấy tại thời điểm 17/12/2018, chính UBND quận Nam Từ Liêm đã xác nhận còn hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng.
Điều này cần được đặt cạnh Quyết định 5346 năm 2016.
⸻
IV. Từ đây xuất hiện một câu hỏi pháp lý rất mạnh
Nếu Quyết định 5346 ngày 26/9/2016 được sử dụng để nói rằng:
“Đã hoàn thành bồi thường, giải phóng mặt bằng và thu hồi đất”
thì phải giải thích:
Tại sao ngày 17/12/2018 UBND quận Nam Từ Liêm vẫn xác nhận:
“01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và bàn giao mặt bằng”?
Đây là một mâu thuẫn về thời điểm và tình trạng thực tế cần được giải thích bằng hồ sơ gốc.
Tôi nhấn mạnh:
Chưa thể từ mâu thuẫn này kết luận Quyết định 5346 trái pháp luật.
Nhưng nó tạo ra một yêu cầu chứng minh rất rõ:
Cơ quan Nhà nước phải làm rõ tình trạng pháp lý riêng của phần đất do hộ ông Nguyễn Văn Bình sử dụng tại thời điểm ban hành Quyết định 5346 và sau đó.
⸻
V. Tài liệu số 2736/UBND-TTPTQĐ ngày 15/11/2018 tạo ra một bước ngoặt khác
Văn bản này yêu cầu Công ty TNHH NN MTV Môi trường đô thị Hà Nội cung cấp hồ sơ liên quan đến diện tích đất thu hồi.
Đặc biệt, UBND quận yêu cầu cung cấp:
* Quyết định giao đất hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất;
* bản đồ vị trí thửa đất;
* biên bản bàn giao mốc giới;
* các hồ sơ liên quan.
Và văn bản viện dẫn:
Quyết định số 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990 của UBND Thành phố Hà Nội.
Đây là một chứng cứ cực kỳ quan trọng về nguồn gốc pháp lý của khu đất.
⸻
VI. Vì sao Quyết định 2521 năm 1990 quan trọng?
Bởi vì nếu năm 1990 đã có quyết định của UBND Thành phố liên quan đến việc giao đất cho đơn vị quản lý, thì chúng ta phải xác định:
1. Giao cho ai?
2. Diện tích bao nhiêu?
3. Vị trí ở đâu?
4. Ranh giới như thế nào?
5. Mục đích sử dụng?
6. Có bản đồ kèm theo không?
7. Có biên bản bàn giao mốc giới không?
8. Sau đó quyền quản lý được chuyển cho ai?
9. Quyết định 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992 có thay đổi hoặc xác lập lại quyền quản lý đó không?
10. Đến năm 2016, phần đất này còn thuộc đơn vị được giao năm 1990/1992 hay đã được thu hồi hợp pháp?
Đây chính là chuỗi pháp lý nguồn gốc đất.
⸻
VII. Tôi phát hiện một điểm rất đáng chú ý giữa năm 1990 – 1992 và năm 2016
Tài liệu năm 2018 cho biết UBND quận yêu cầu làm rõ hồ sơ khu đất đã được UBND Thành phố giao cho Sở Giao thông công chính Hà Nội/Công ty Môi trường đô thị Hà Nội quản lý, sử dụng, theo:
* Công văn số 1319/CV-UB ngày 02/7/1992;
* Quyết định số 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992;
* đồng thời yêu cầu cung cấp hồ sơ liên quan đến Quyết định 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990.
Như vậy, trước năm 2016 đã tồn tại một lịch sử quản lý đất của cơ quan/đơn vị Nhà nước.
Trong khi đó, hồ sơ năm 2016 lại xuất hiện Công ty CP Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì và dự án Vinhomes Paradise.
Vì vậy phải làm rõ:
Quyền quản lý từ năm 1990/1992 đã được chuyển đổi, thu hồi hoặc chấm dứt bằng văn bản nào trước khi 263.161 m² được giao cho doanh nghiệp năm 2016?
Đây là câu hỏi mới rất quan trọng mà các giấy tờ anh vừa bổ sung giúp chúng ta đặt ra.
⸻
VIII. Đặc biệt: Ban Dân nguyện Quốc hội đã chuyển đơn
Văn bản 409/BDN và 410/BDN ngày 24/11/2020 không phải là quyết định giải quyết tranh chấp.
Nhưng chúng có giá trị chứng minh rằng:
* vụ việc đã được ông Bình phản ánh lên cơ quan dân nguyện của Quốc hội;
* nội dung khiếu nại liên quan trực tiếp đến thu hồi đất;
* vụ việc đã tồn tại từ nhiều năm;
* Ban Dân nguyện đã chuyển đơn và tài liệu đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết.
Đặc biệt, văn bản 410/BDN còn đề nghị Chánh án TAND thành phố Hà Nội xem xét việc giải quyết vụ án hành chính mà ông Bình đã khởi kiện.
Điều này chứng minh vụ việc không phải mới phát sinh khi ông Bình nộp hồ sơ cấp sổ năm 2026.
⸻
IX. Tôi cập nhật lại “dòng thời gian” của vụ án
Bây giờ hồ sơ có thể dựng thành:
26/5/1990
Quyết định 2521/QĐ-XDCB
→ cần lấy bản gốc.
02/7/1992
Công văn 1319/CV-UB
→ liên quan việc quản lý khu đất.
23/10/1992
Quyết định 2553/QĐ-XDCB
→ cần lấy bản gốc.
Từ năm 1997
Ông Bình khai nhận quản lý, sử dụng đất.
Trước năm 2003
UBND phường Mễ Trì có xác nhận việc sử dụng đất.
12/5/2009
Thông báo 325/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án.
Năm 2016
UBND quận ban hành các quyết định thu hồi.
26/9/2016
Quyết định 5346/QĐ-UBND giao 263.161 m² cho doanh nghiệp. Đấu Tranh Đất Đai: Quyết Định 5346.png
17/12/2018
UBND quận xác nhận:
còn 01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và bàn giao mặt bằng.
24/11/2020
Ban Dân nguyện ban hành 409/BDN và 410/BDN, chuyển đơn của ông Bình.
2024
Có hồ sơ/trích đo hiện trạng liên quan đất ông Bình.
2025
Tiếp tục có hồ sơ đo đạc/xác minh.
31/3/2026
Thông báo 62/TB-KTHTĐT.
12/8/2026
Tiếp nhận hồ sơ đăng ký đất đai.
21/8/2026
Trả hồ sơ.
⸻
X. Đây là điểm tôi đánh giá mạnh nhất sau khi có 5 giấy tờ mới
Trước đây chúng ta đặt câu hỏi:
“Năm 2016 đã thu hồi chưa?”
Bây giờ câu hỏi phải nâng lên thành:
“Quá trình pháp lý của phần đất ông Nguyễn Văn Bình từ khi Nhà nước xác lập quản lý năm 1990/1992 đến khi giao 263.161 m² cho doanh nghiệp năm 2016 đã diễn ra như thế nào, và tại sao đến ngày 17/12/2018 UBND quận vẫn xác nhận hộ ông Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng?”
Đây là câu hỏi có hồ sơ cụ thể để chứng minh, không còn là suy đoán.
⸻
XI. Tôi đề nghị bổ sung 7 tài liệu “bắt buộc phải lấy”
Sau khi xem 5 giấy tờ mới, tôi thay đổi danh mục tài liệu ưu tiên.
Số 1
Quyết định 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990.
Số 2
Công văn 1319/CV-UB ngày 02/7/1992.
Số 3
Quyết định 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992.
Số 4
Toàn bộ hồ sơ/phụ lục Quyết định 5248/QĐ-UBND ngày 07/9/2016, đặc biệt danh sách hộ được bồi thường.
Số 5
Quyết định thu hồi đất cụ thể đối với ông Nguyễn Văn Bình, nếu có.
Số 6
Phương án bồi thường, hỗ trợ và chứng từ chi trả đối với ông Bình, nếu có.
Số 7
Bản đồ + biên bản bàn giao mốc giới của 263.161 m², để đối chiếu trực tiếp với đất ông Bình.
⸻
XII. Một yêu cầu tôi đề nghị đưa nguyên văn vào đơn
“Đề nghị UBND phường Đại Mỗ và cơ quan có thẩm quyền cung cấp, đối chiếu hồ sơ pháp lý về nguồn gốc và quá trình quản lý phần đất gia đình ông Nguyễn Văn Bình đang sử dụng, trong đó đặc biệt đề nghị cung cấp Quyết định số 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990, Công văn số 1319/CV-UB ngày 02/7/1992, Quyết định số 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992 và các hồ sơ giao đất, bản đồ vị trí, biên bản bàn giao mốc giới có liên quan; đồng thời làm rõ căn cứ pháp lý để xác định phần đất của hộ ông Nguyễn Văn Bình đã được thu hồi trước khi giao đất cho doanh nghiệp theo Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016.”
Và tiếp theo:
“Đặc biệt, đề nghị giải thích việc tại Văn bản số 303/UBND-TTPTQĐ ngày 17/12/2018, UBND quận Nam Từ Liêm xác nhận còn tồn tại 01 hộ ông Nguyễn Văn Bình chưa nhận tiền và bàn giao mặt bằng, trong khi Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 được sử dụng làm căn cứ xác định diện tích đất đã hoàn thành bồi thường, giải phóng mặt bằng và thu hồi.”
⸻
XIII. Kết luận cập nhật
Sau khi bổ sung 5 giấy tờ này, hồ sơ của ông Nguyễn Văn Bình mạnh hơn đáng kể về mặt chứng cứ để yêu cầu cơ quan Nhà nước giải trình.
Đặc biệt có 4 mốc chứng cứ cần đặt cạnh nhau:
1990/1992 – Nhà nước có hồ sơ giao/quản lý đất
↓
2016 – Quyết định 5346 giao 263.161 m² cho doanh nghiệp
↓
17/12/2018 – UBND quận xác nhận ông Bình chưa nhận tiền và chưa bàn giao mặt bằng
↓
2020 – Ban Dân nguyện Quốc hội tiếp nhận và chuyển đơn của ông Bình
Đây là một chuỗi rất đáng chú ý.
Tôi sẽ không kết luận vội rằng ông Bình chắc chắn có quyền sử dụng 2.430 m². Nhưng với những tài liệu mới này, việc yêu cầu cơ quan hành chính chứng minh cụ thể quá trình thu hồi – bồi thường – bàn giao đối với chính hộ ông Bình là hoàn toàn có cơ sở để đặt ra.
Và tôi cho rằng tài liệu cần truy tìm đầu tiên bây giờ chính là Quyết định 2521/QĐ-XDCB ngày 26/5/1990 và Quyết định 2553/QĐ-XDCB ngày 23/10/1992. Hai văn bản này có thể giúp chúng ta giải được “gốc” của toàn bộ câu chuyện trước khi bước sang năm 2016
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét