Tôi đã kiểm tra lại nội dung trong 2 trang đơn anh chụp, đồng thời đối chiếu với quy định khiếu nại đang có hiệu lực từ 01/7/2026. Có một số điểm nên sửa để đơn chặt chẽ hơn.
Đặc biệt, tôi đề nghị không viết ngay “có vi phạm” hoặc “phần dôi dư là giao đất trái pháp luật” khi chưa có kết quả xác minh. Cách viết an toàn và có sức nặng hơn là yêu cầu UBND phường làm rõ nguồn gốc, ranh giới, diện tích, căn cứ pháp lý và hồ sơ bàn giao. Nếu sau xác minh có dấu hiệu vi phạm thì mới kiến nghị xử lý.
Ngoài ra, từ 01/7/2026, Luật Khiếu nại đã được sửa đổi; Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính của mình và của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã. Vì vậy, tôi sẽ chỉnh phần “Kính gửi” theo hướng Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ.
Một điểm nữa: 263.161 m² + 30.776 m² = 293.937 m², đúng. Nếu diện tích hơn 398.566 m² mà anh viện dẫn được chứng minh từ bản án thì chênh lệch tối thiểu là 104.629 m². Tuy nhiên, không nên gọi ngay toàn bộ 104.629 m² là “đất dôi dư được giao”, mà phải yêu cầu xác định hai diện tích có cùng phạm vi, cùng ranh giới và cùng mốc giới hay không.
Dưới đây là bản tôi đề nghị dùng:
⸻
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 07 tháng 09 năm 2026
ĐƠN KHIẾU NẠI
Về việc khiếu nại Văn bản số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị - UBND phường Đại Mỗ
Kính gửi: CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG ĐẠI MỖ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
I. NGƯỜI KHIẾU NẠI
Họ và tên: Nguyễn Văn Bình
Sinh năm: 1976
Địa chỉ: Số 5 Đại lộ Thăng Long, tổ dân phố số 1, phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 0972
CCCD: 030076
Hộ khẩu thường trú: Nhà số 8, ngõ 81 Trung Kính, phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội.
II. NGƯỜI BỊ KHIẾU NẠI
Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị - UBND phường Đại Mỗ, là cơ quan đã ban hành Văn bản số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 về việc trả lời hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi.
III. NỘI DUNG KHIẾU NẠI
Tôi làm đơn này khiếu nại Văn bản số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị - UBND phường Đại Mỗ, trong đó xác định hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tôi đối với diện tích khoảng 2.430 m² tại khu vực số 5 Đại lộ Thăng Long, khu Đồng Trong Đống, phường Mễ Trì trước đây, nay thuộc phường Đại Mỗ, thành phố Hà Nội, là không có cơ sở với lý do diện tích đất nêu trên nằm trong 293.937 m² đất đã được UBND thành phố Hà Nội giao cho Công ty Cổ phần Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì theo Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 và Quyết định số 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018.
Tôi không đồng ý với kết luận nêu trên vì cho rằng việc xác định diện tích 2.430 m² đất tôi đang sử dụng có nằm trong phạm vi đất đã được giao cho doanh nghiệp hay không cần phải được chứng minh bằng hồ sơ pháp lý, bản đồ, ranh giới, mốc giới, tọa độ và hồ sơ bàn giao đất cụ thể, chứ không thể chỉ căn cứ vào tổng diện tích ghi trong các quyết định giao đất để kết luận diện tích đất tôi đang sử dụng thuộc diện tích đã giao.
Qua nghiên cứu các tài liệu tôi đang có, tôi nhận thấy có những vấn đề cần được UBND phường kiểm tra, xác minh và giải thích rõ như sau:
1. Về diện tích đất được giao theo các quyết định của UBND thành phố Hà Nội
Theo các tài liệu tôi có:
Thứ nhất, ngày 14/10/2016 có Biên bản bàn giao số 119037/HSMG, thể hiện việc bàn giao cho Công ty Cổ phần Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì diện tích 263.161 m².
Thứ hai, ngày 23/02/2018 có Biên bản bàn giao số 980066/HSMG, thể hiện việc bàn giao cho Công ty Cổ phần Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì diện tích 30.776 m².
Như vậy:
263.161 m² + 30.776 m² = 293.937 m².
Tôi đề nghị UBND phường kiểm tra và làm rõ phạm vi, ranh giới, vị trí, mốc giới và bản đồ của từng phần diện tích được bàn giao, đồng thời xác định chính xác hai diện tích trên có trùng khớp với phạm vi đất được giao theo Quyết định số 5346/QĐ-UBND và Quyết định số 566/QĐ-UBND hay không.
Theo thông tin, tài liệu mà tôi có, tổng diện tích khu đất trên thực tế được thể hiện ở mức hơn 398.566 m², trong đó con số này được phản ánh trong hồ sơ/bản án mà tôi có.
Nếu lấy con số này để đối chiếu với diện tích 293.937 m² thì có sự chênh lệch khoảng:
398.566 m² - 293.937 m² = 104.629 m².
Tôi không cho rằng chỉ riêng sự chênh lệch này đã đủ để kết luận có việc giao đất trái pháp luật. Tuy nhiên, đây là vấn đề cần được cơ quan có thẩm quyền xác minh bằng hồ sơ địa chính, bản đồ và mốc giới thực tế, bởi nếu các số liệu nói trên cùng phản ánh một phạm vi khu đất thì cần phải xác định rõ nguồn gốc và cơ sở pháp lý của phần diện tích chênh lệch.
2. Đề nghị làm rõ căn cứ để xác định 2.430 m² đất của tôi nằm trong diện tích đất đã giao cho doanh nghiệp
Tôi đề nghị UBND phường Đại Mỗ làm rõ:
* Căn cứ vào bản đồ nào để xác định diện tích 2.430 m² tôi đề nghị cấp Giấy chứng nhận nằm trong diện tích 293.937 m² đã giao cho Công ty Cổ phần Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì?
* Ranh giới cụ thể của diện tích 293.937 m² trên bản đồ địa chính hiện nay ở đâu?
* Có tọa độ, mốc giới, bản trích đo hoặc hồ sơ kỹ thuật thửa đất để xác định vị trí cụ thể hay không?
* Diện tích 2.430 m² tôi đang quản lý, sử dụng có nằm hoàn toàn hay chỉ nằm một phần trong ranh giới đất đã giao cho doanh nghiệp?
* Nếu nằm trong ranh giới đất đã giao thì căn cứ hồ sơ nào xác định chính xác phần đất của gia đình tôi đã được thu hồi, giải phóng mặt bằng và bàn giao cho doanh nghiệp?
* Có quyết định thu hồi đất cụ thể đối với diện tích đất của tôi hay không?
* Có hồ sơ thể hiện việc bồi thường, hỗ trợ, nhận tiền và bàn giao mặt bằng đối với phần diện tích đất của tôi hay không?
Đây là những nội dung có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định quyền sử dụng đất và việc giải quyết hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận của tôi.
3. Đề nghị kiểm tra, xác minh thực địa
Tôi đề nghị UBND phường Đại Mỗ tổ chức kiểm tra, xác minh thực địa đối với toàn bộ diện tích khoảng 2.430 m² tôi đang sử dụng; xác định cụ thể:
1. Vị trí khu đất;
2. Diện tích thực tế;
3. Ranh giới và mốc giới;
4. Hiện trạng sử dụng đất;
5. Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất;
6. Vị trí của khu đất trên bản đồ địa chính;
7. Ranh giới đất theo các quyết định giao đất cho doanh nghiệp;
8. Đối chiếu giữa diện tích, ranh giới trên hồ sơ địa chính với diện tích, ranh giới thực tế.
Đề nghị việc kiểm tra, xác minh được lập thành biên bản, có sự tham gia của người đang sử dụng đất và có tài liệu kỹ thuật kèm theo để bảo đảm việc xác định diện tích được khách quan, chính xác.
Theo quy định về hồ sơ địa chính, bản đồ địa chính phải thể hiện các nội dung quan trọng như ranh giới thửa đất và diện tích; trong một số trường hợp pháp luật cũng quy định việc trích lục hoặc trích đo để xác định diện tích, vị trí thửa đất.
4. Đề nghị cung cấp và cho tôi được tiếp cận các tài liệu đã được sử dụng làm căn cứ ban hành Văn bản số 148/TB-KTHTĐT
Để tôi có điều kiện thực hiện quyền khiếu nại và cung cấp chứng cứ, kính đề nghị UBND phường cho tôi được tiếp cận, sao chụp các tài liệu mà cơ quan đã sử dụng để ban hành Văn bản số 148/TB-KTHTĐT, trong đó đặc biệt gồm:
a) Đối với Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016:
* Toàn văn quyết định;
* Bản đồ, sơ đồ vị trí khu đất được giao;
* Phụ lục diện tích;
* Hồ sơ xác định ranh giới, mốc giới;
* Hồ sơ bàn giao đất;
* Các tài liệu xác định diện tích đất thực tế đã bàn giao.
b) Đối với Quyết định số 566/QĐ-UBND ngày 31/01/2018:
* Toàn văn quyết định;
* Bản đồ và sơ đồ vị trí;
* Hồ sơ xác định 30.776 m² đất;
* Hồ sơ xác định phạm vi 03 tuyến đường;
* Ranh giới, mốc giới và vị trí cụ thể của phần đất được giao.
c) Đối với hồ sơ địa chính:
* Bản đồ địa chính;
* Sổ mục kê;
* Sổ địa chính;
* Hồ sơ biến động đất đai;
* Hồ sơ chỉnh lý;
* Hồ sơ xác định nguồn gốc đất;
* Hồ sơ thu hồi đất;
* Hồ sơ bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng;
* Hồ sơ bàn giao đất cho doanh nghiệp;
* Các tài liệu xác định vị trí 2.430 m² đất của gia đình tôi trong tương quan với ranh giới dự án.
Luật Khiếu nại cũng ghi nhận quyền của người khiếu nại được biết, đọc, sao chụp, sao chép tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ trường hợp thuộc bí mật nhà nước.
5. Về căn cứ ban hành Văn bản số 148/TB-KTHTĐT
Tôi đề nghị Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ chỉ đạo kiểm tra:
Văn bản số 148/TB-KTHTĐT đã căn cứ đầy đủ hồ sơ pháp lý, hồ sơ địa chính, bản đồ và kết quả xác minh thực địa để kết luận diện tích 2.430 m² của tôi nằm trong 293.937 m² đất đã giao cho doanh nghiệp hay chưa?
Nếu chưa có việc đối chiếu trực tiếp giữa:
(1) diện tích 2.430 m² tôi đang sử dụng;
(2) bản đồ địa chính;
(3) ranh giới đất được giao theo Quyết định 5346 và Quyết định 566;
(4) biên bản bàn giao đất; và
(5) hồ sơ thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng,
thì tôi đề nghị chưa sử dụng riêng tổng diện tích 293.937 m² để làm căn cứ duy nhất kết luận rằng toàn bộ diện tích 2.430 m² của tôi không có cơ sở được xem xét cấp Giấy chứng nhận.
6. Về việc xem xét dấu hiệu lãng phí, sai phạm nếu có
Tôi được biết Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-KTNN-TTCP, ban hành ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 25/01/2026, hướng dẫn việc xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Tôi không khẳng định trước rằng vụ việc này đã có hành vi phạm tội hoặc hành vi gây lãng phí, mà đề nghị cơ quan có thẩm quyền, trong phạm vi chức năng của mình, xem xét toàn bộ hồ sơ và nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật thì thực hiện hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định.
⸻
IV. YÊU CẦU GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
Từ những nội dung nêu trên, tôi kính đề nghị Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ:
1. Thụ lý và giải quyết khiếu nại của tôi đối với Văn bản số 148/TB-KTHTĐT ngày 27/8/2026 theo đúng quy định của pháp luật.
2. Kiểm tra, xác minh toàn diện căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế được sử dụng để kết luận diện tích 2.430 m² đất tôi đề nghị cấp Giấy chứng nhận nằm trong diện tích 293.937 m² đất đã giao cho Công ty Cổ phần Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì.
3. Tổ chức kiểm tra thực địa và đối chiếu bản đồ, xác định chính xác vị trí, diện tích, ranh giới, mốc giới của phần đất tôi đang sử dụng.
4. Làm rõ nguồn gốc và căn cứ pháp lý của toàn bộ diện tích 293.937 m² đã giao cho doanh nghiệp, cũng như phần diện tích chênh lệch nếu có khi đối chiếu với diện tích thực tế của khu đất.
5. Làm rõ riêng đối với phần đất 2.430 m² của gia đình tôi: đã có quyết định thu hồi đất hay chưa; đã thực hiện bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng hay chưa; đã bàn giao cho doanh nghiệp hay chưa; nếu có thì căn cứ vào hồ sơ nào.
6. Cung cấp hoặc cho tôi được tiếp cận, sao chụp các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan có thẩm quyền sử dụng làm căn cứ giải quyết hồ sơ của tôi và ban hành Văn bản số 148/TB-KTHTĐT, trong phạm vi pháp luật cho phép.
7. Trường hợp kết quả xác minh cho thấy Văn bản số 148/TB-KTHTĐT chưa có đủ căn cứ hoặc có nội dung chưa chính xác, đề nghị xem xét thu hồi, hủy bỏ hoặc sửa đổi nội dung văn bản theo thẩm quyền và giải quyết lại hồ sơ của tôi theo đúng quy định pháp luật.
8. Trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong quá trình quản lý, thu hồi, giao đất, bàn giao đất hoặc xác định diện tích đất, đề nghị chuyển hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý theo quy định.
Tôi đề nghị việc giải quyết phải bảo đảm khách quan, chính xác, có căn cứ hồ sơ và phù hợp giữa số liệu trên bản đồ với hiện trạng sử dụng đất thực tế, tránh trường hợp chỉ căn cứ vào tổng diện tích của dự án mà chưa xác định được chính xác phần đất cụ thể của gia đình tôi.
Tôi cam đoan những nội dung trình bày trên là đúng theo các tài liệu tôi đang có và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại của mình.
Kính đề nghị Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ xem xét, thụ lý, xác minh và giải quyết theo đúng quy định pháp luật; đồng thời trả lời tôi bằng văn bản.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
NGƯỜI KHIẾU NẠI
(Ký và ghi rõ họ tên)
NGUYỄN VĂN BÌNH
⸻
Tôi đặc biệt đề nghị anh sửa 5 điểm so với bản cũ
1. Sửa ngày tháng:
Bản anh ghi “Hà Nội, ngày 7 tháng 7 năm 202” nhưng văn bản bị khiếu nại ngày 27/8/2026. Nếu anh ký đơn ngày 07/9/2026 thì phải ghi:
Hà Nội, ngày 07 tháng 09 năm 2026.
2. “Kính gửi” nên ghi:
CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG ĐẠI MỖ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Vì quy định về thẩm quyền khiếu nại đã thay đổi từ 01/7/2026. Điều 17 Luật Khiếu nại hiện hành quy định Chủ tịch UBND cấp xã giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính của mình và của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã.
3. Không nên viết:
“Vậy phần dôi dư mà Sở Tài nguyên môi trường giao cho công ty lấy ở đâu? Có hợp pháp không?”
Tôi đã chuyển thành yêu cầu xác minh nguồn gốc và căn cứ pháp lý của phần chênh lệch. Cách này mạnh hơn về pháp lý vì buộc cơ quan phải trả lời bằng hồ sơ nhưng không để họ dễ bác đơn với lý do anh đang đưa ra một kết luận chưa được chứng minh.
4. Không nên khẳng định:
“Tôi nhận thấy có sự vi phạm Thông tư 11/2025…”
Tôi đã sửa thành “không khẳng định trước có tội phạm, đề nghị xem xét nếu có dấu hiệu vi phạm”. Đây là cách rất quan trọng để tránh đơn khiếu nại bị chuyển hướng thành một cáo buộc hình sự chưa có chứng cứ. Bản thân Thông tư 11/2025 có hiệu lực từ 25/01/2026 và là văn bản hướng dẫn xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí, chứ không phải cứ có chênh lệch diện tích là mặc nhiên có tội phạm.
5. Điểm tôi thấy quan trọng nhất:
Đơn mới không chỉ tranh luận 293.937 m² hay 398.566 m², mà đánh thẳng vào vấn đề:
“Hồ sơ nào chứng minh chính xác 2.430 m² của ông Nguyễn Văn Bình đã bị thu hồi và nằm trong ranh giới đất đã giao cho doanh nghiệp?”
Đây mới là nút pháp lý trọng tâm. Việc UBND thành phố giao tổng cộng 293.937 m² cho doanh nghiệp là một chuyện; việc chứng minh 2.430 m² cụ thể của ông Bình nằm trong phần đất đó lại là một vấn đề khác. Tài liệu của HĐND Hà Nội cũng xác nhận Quyết định 5346 giao 263.161 m² và Quyết định 566 giao 30.776 m², tổng cộng 293.937 m².
Và theo quy định về hồ sơ địa chính, việc xác định thửa đất phải gắn với ranh giới, diện tích và bản đồ địa chính, chứ không chỉ dựa vào một con số tổng diện tích.
Theo tôi, bản trên phù hợp hơn để ông Bình nộp khiếu nại lần đầu. Nó vừa bảo vệ quan điểm của ông Bình, vừa buộc UBND phường phải trả lời từng vấn đề về quyết định giao đất → bản đồ → ranh giới → thu hồi → bồi thường → bàn giao → vị trí 2.430 m².



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét