Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

CHƯƠNG IX ĐỐI CHIẾU TRÌNH TỰ THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT VỚI HỒ SƠ CỦA ÔNG NGUYỄN VĂN BÌNH

Phần tiếp theo này sẽ là “linh hồn” của bản khiếu nại. Nếu được trình bày tốt, đây sẽ là phần mà cơ quan giải quyết khiếu nại rất khó bỏ qua. ⸻ CHƯƠNG IX ĐỐI CHIẾU TRÌNH TỰ THU HỒI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT VỚI HỒ SƠ CỦA ÔNG NGUYỄN VĂN BÌNH Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất của người dân là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất của bất kỳ tổ chức, hộ gia đình hay cá nhân nào đều phải tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Đây không chỉ là yêu cầu của Luật Đất đai mà còn là nguyên tắc bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013. Qua nghiên cứu hồ sơ hiện có, tôi nhận thấy việc áp dụng Quyết định số 5346/QĐ-UBND đối với trường hợp của gia đình tôi còn nhiều vấn đề cần được làm rõ. 1. Trình tự thu hồi đất phải được thực hiện đối với từng người sử dụng đất Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực tại thời điểm ban hành Quyết định số 5346), việc thu hồi đất để thực hiện dự án phải trải qua các bước theo trình tự luật định, bao gồm việc xác định đối tượng bị thu hồi, kiểm đếm, lập phương án bồi thường, công khai phương án, ban hành quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện. Các bước này nhằm bảo đảm người sử dụng đất được biết, được tham gia ý kiến và được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Do đó, việc có Quyết định giao đất cho doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc trình tự thu hồi đất đối với từng hộ gia đình đã mặc nhiên được hoàn tất. 2. Hồ sơ của gia đình tôi chưa thể hiện đầy đủ trình tự này Đến nay, tôi chưa được cung cấp hoặc chưa được biết các tài liệu sau đây đối với hộ gia đình mình: * Quyết định thu hồi đất. * Biên bản kiểm đếm đất và tài sản. * Phương án bồi thường, hỗ trợ đã được phê duyệt. * Biên bản công khai phương án. * Biên bản bàn giao mặt bằng. * Chứng từ chi trả tiền bồi thường. * Hồ sơ xác định chính xác phần diện tích đất của gia đình tôi nằm trong phạm vi thu hồi. Nếu các tài liệu này tồn tại, kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền công khai để tôi được tiếp cận theo quy định của pháp luật. Nếu các tài liệu này không có hoặc chưa đầy đủ thì việc kết luận rằng quyền sử dụng đất của gia đình tôi đã chấm dứt cần được xem xét hết sức thận trọng. 3. Trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan hành chính Trong quá trình giải quyết khiếu nại và nếu phát sinh tố tụng hành chính, cơ quan ban hành quyết định hoặc văn bản hành chính có trách nhiệm cung cấp hồ sơ và chứng minh căn cứ pháp lý, căn cứ thực tế của quyết định đó. Vì vậy, tôi kính đề nghị cơ quan giải quyết khiếu nại yêu cầu Phòng Kinh tế Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ xuất trình toàn bộ hồ sơ mà cơ quan này đã sử dụng làm căn cứ ban hành Thông báo số 62. Nếu không có đầy đủ hồ sơ chứng minh, việc kết luận ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của công dân cần được xem xét lại. ⸻ CHƯƠNG X DẤU HIỆU CHƯA THỐNG NHẤT TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT HỒ SƠ Qua đối chiếu các tài liệu do chính cơ quan nhà nước ban hành, tôi nhận thấy có những nội dung cần được giải trình. Thứ nhất Nếu diện tích đất của tôi đã hoàn tất việc thu hồi từ năm 2016 thì vì sao đến năm 2024 cơ quan chuyên môn vẫn lập bản trích đo địa chính đối với thửa đất này? Việc lập bản trích đo cho thấy cơ quan quản lý vẫn đang xác định hiện trạng phục vụ xử lý hồ sơ. Đây là tình tiết cần được làm rõ. Thứ hai Nếu quyền sử dụng đất của tôi đã chấm dứt thì vì sao cơ quan nhà nước vẫn tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận trong năm 2025? Việc tiếp nhận hồ sơ cho thấy cơ quan có thẩm quyền vẫn thực hiện các bước xử lý hành chính đối với hồ sơ của tôi trước khi ban hành Thông báo số 62. Thứ ba Thông báo số 62 là văn bản đính chính Thông báo số 05. Việc phải đính chính cho thấy nội dung của văn bản trước đó có sai sót. Trong bối cảnh quyền sử dụng đất là một quyền tài sản quan trọng, điều này đòi hỏi cơ quan ban hành phải rà soát kỹ hồ sơ và giải trình đầy đủ căn cứ của từng kết luận. ⸻ CHƯƠNG XI KIẾN NGHỊ Từ những phân tích nêu trên, tôi kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền: 1. Tổ chức xác minh toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc thu hồi đất đối với hộ gia đình tôi. 2. Yêu cầu Phòng Kinh tế Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ cung cấp toàn bộ căn cứ pháp lý và hồ sơ thực tế đã sử dụng khi ban hành Thông báo số 62/TB-KTHTĐT. 3. Tổ chức đối thoại trực tiếp với tôi theo quy định của Luật Khiếu nại để làm rõ toàn bộ các vấn đề còn chưa thống nhất. 4. Trường hợp xác định Thông báo số 62 chưa có đầy đủ căn cứ pháp lý hoặc chưa bảo đảm trình tự theo quy định, đề nghị thu hồi hoặc hủy bỏ Thông báo này và giải quyết lại hồ sơ của tôi theo đúng quy định pháp luật. 5. Thông báo kết quả giải quyết bằng văn bản, nêu rõ căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế đối với từng nội dung khiếu nại. ⸻ LỜI KẾT Là một công dân luôn tôn trọng pháp luật, tôi hiểu rằng Nhà nước có quyền thu hồi đất để thực hiện các dự án vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc theo các trường hợp luật định. Tuy nhiên, quyền đó phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Tôi không khiếu nại để phủ nhận chủ trương phát triển hay phủ nhận giá trị pháp lý của Quyết định số 5346/QĐ-UBND. Điều tôi đề nghị là việc áp dụng Quyết định này đối với trường hợp cụ thể của gia đình tôi phải được chứng minh bằng hồ sơ, tài liệu và căn cứ pháp luật đầy đủ. Nếu cơ quan nhà nước chứng minh được rằng việc thu hồi đất đối với gia đình tôi đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật, tôi sẽ tôn trọng kết quả đó. Ngược lại, nếu chưa có đủ căn cứ, kính đề nghị Quý cơ quan xem xét khách quan, sửa đổi hoặc hủy bỏ những nội dung chưa phù hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với nền hành chính và pháp luật. Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong đơn khiếu nại này là đúng theo hiểu biết của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thông tin đã cung cấp. Xin trân trọng cảm ơn! ⸻ Tôi có một đề xuất quan trọng: Sau khi hoàn thành bản khiếu nại này, tôi sẽ giúp anh biên soạn thêm một “Bản luận cứ pháp lý bảo vệ đơn khiếu nại” dài khoảng 20–30 trang. Khác với đơn khiếu nại, bản luận cứ sẽ đi sâu phân tích từng điều của Luật Đất đai 2013, Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố tụng hành chính 2015 và đối chiếu trực tiếp với từng tài liệu trong hồ sơ của ông Nguyễn Văn Bình. Đây là tài liệu có thể sử dụng khi làm việc với cơ quan giải quyết khiếu nại hoặc trong quá trình khởi kiện hành chính.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét