Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

ĐƠN KHIẾU NẠI V/v khiếu nại Thông báo số 62/TB-KTHTĐT ngày 31/3/2026 của Phòng Kinh tế Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ

Với toàn bộ hồ sơ anh đã gửi trong nhiều ngày qua, tôi sẽ xây dựng một bản khiếu nại chuyên sâu theo đúng phong cách luật sư, không chỉ trình bày sự việc mà còn phân tích từng căn cứ pháp lý và chỉ ra các điểm chưa thống nhất trong quá trình giải quyết hồ sơ. Dưới đây là Phần I và Phần II của bản khiếu nại. ⸻ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN KHIẾU NẠI V/v khiếu nại Thông báo số 62/TB-KTHTĐT ngày 31/3/2026 của Phòng Kinh tế Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ Kính gửi: * Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; * Chánh Thanh tra thành phố Hà Nội; * Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hà Nội; * Chủ tịch UBND phường Đại Mỗ. Người khiếu nại: Nguyễn Văn Bình … I. LÝ DO KHIẾU NẠI Tôi làm đơn này để khiếu nại Thông báo số 62/TB-KTHTĐT ngày 31/3/2026 của Phòng Kinh tế Hạ tầng và Đô thị phường Đại Mỗ vì cho rằng văn bản này được ban hành chưa bảo đảm căn cứ pháp lý, chưa phản ánh đầy đủ hồ sơ vụ việc và có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Thông báo số 62 lấy Quyết định số 5346/QĐ-UBND ngày 26/9/2016 làm căn cứ để kết luận diện tích đất tôi đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc phạm vi dự án Vinhomes Paradise. Tuy nhiên, việc áp dụng Quyết định số 5346 đối với trường hợp của tôi chưa được chứng minh bằng các tài liệu pháp lý bắt buộc theo quy định của Luật Đất đai. Do vậy, tôi đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại toàn bộ nội dung Thông báo số 62. ⸻ II. DIỄN BIẾN VỤ VIỆC Gia đình tôi sử dụng thửa đất tại số 5 Đại lộ Thăng Long trong thời gian dài. Năm 2024, theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, Công ty TNHH MTV Khảo sát và Đo đạc địa chính Hà Nội lập Bản trích đo địa chính số 18M07.2024/HSKT ngày 03/7/2024. Bản trích đo xác định: * Chủ sử dụng: Nguyễn Văn Bình. * Diện tích hiện trạng: 1.531,1 m². * Có đầy đủ tọa độ, ranh giới và hiện trạng sử dụng đất. Sau đó, tôi nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 06/8/2025, Phòng Kinh tế Hạ tầng và Đô thị ban hành Thông báo số 05. Ngày 31/3/2026, cơ quan này tiếp tục ban hành Thông báo số 62 để đính chính Thông báo số 05. Thông báo số 62 cho rằng diện tích đất của tôi nằm trong 263.161 m² đất đã giao cho Công ty Cổ phần Phát triển Thể thao và Giải trí Mễ Trì theo Quyết định số 5346/QĐ-UBND. Chính nội dung này đã trực tiếp ảnh hưởng đến việc giải quyết hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận của tôi. ⸻ III. NHỮNG ĐIỂM MÂU THUẪN PHÁP LÝ 1. Quyết định giao đất không đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất của công dân tự động chấm dứt Quyết định số 5346 là quyết định giao đất cho doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Đất đai, việc giao đất cho nhà đầu tư không đồng nghĩa với việc mọi quyền sử dụng đất của người dân trong phạm vi dự án mặc nhiên bị chấm dứt. Muốn chấm dứt quyền sử dụng đất của người dân thì phải thực hiện đầy đủ trình tự thu hồi đất theo luật. Nếu chưa hoàn thành trình tự này thì việc viện dẫn Quyết định 5346 để bác hồ sơ cấp Giấy chứng nhận là chưa đủ căn cứ. ⸻ 2. Chưa chứng minh đã hoàn thành trình tự thu hồi đất Theo hồ sơ tôi được biết đến nay, chưa có tài liệu chứng minh đối với hộ gia đình tôi đã có: * Quyết định thu hồi đất. * Biên bản kiểm đếm. * Phương án bồi thường. * Phương án hỗ trợ. * Phương án tái định cư (nếu thuộc trường hợp phải bố trí). * Biên bản bàn giao mặt bằng. * Biên bản xác nhận đã nhận tiền bồi thường. * Hồ sơ xác định ranh giới phần diện tích thu hồi của chính hộ gia đình tôi. Nếu các tài liệu trên tồn tại, đề nghị cơ quan công khai để tôi được biết. Nếu chưa có thì việc kết luận đất của tôi đã nằm trong diện tích giao cho doanh nghiệp là cần được xem xét lại. ⸻ 3. Hồ sơ hành chính tự mâu thuẫn Một mặt, cơ quan chuyên môn vẫn: * lập trích đo địa chính năm 2024; * tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận năm 2025. Nhưng mặt khác lại cho rằng đất đã thuộc dự án từ năm 2016. Hai quá trình này tồn tại song song và cần được giải thích rõ bằng hồ sơ quản lý đất đai. ⸻ IV. CĂN CỨ PHÁP LUẬT 1. Hiến pháp năm 2013 * Điều 32 bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp. * Điều 53 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng việc quản lý, sử dụng phải theo pháp luật. * Điều 30 bảo đảm quyền khiếu nại của công dân. ⸻ 2. Luật Khiếu nại năm 2011 Theo Điều 2, công dân có quyền khiếu nại khi cho rằng quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo Điều 7, người khiếu nại có quyền yêu cầu cơ quan ban hành quyết định giải trình, cung cấp căn cứ và xem xét lại quyết định. Theo Điều 28 và các điều tiếp theo, cơ quan giải quyết khiếu nại có trách nhiệm xác minh khách quan, đầy đủ, đối thoại và ban hành quyết định giải quyết có căn cứ. ⸻ 3. Luật Đất đai Tùy thời điểm áp dụng (Luật Đất đai 2013 hoặc Luật Đất đai 2024 đối với việc giải quyết hồ sơ hiện nay), nguyên tắc chung đều yêu cầu việc thu hồi đất phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, có quyết định của cơ quan có thẩm quyền và bảo đảm quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. ⸻ Đây mới là khoảng 4 trang của bản khiếu nại. Ở phần tiếp theo, tôi sẽ viết các nội dung quan trọng nhất: * V. Phân tích các dấu hiệu vi phạm trình tự hành chính của Thông báo số 62. * VI. Đối chiếu từng điểm giữa Quyết định 5346 và hồ sơ của ông Nguyễn Văn Bình. * VII. Phân tích trách nhiệm của UBND phường Đại Mỗ, Văn phòng Đăng ký đất đai và cơ quan chuyên môn. * VIII. Kiến nghị, yêu cầu hủy bỏ Thông báo số 62 và giải quyết lại hồ sơ theo đúng quy định pháp luật. Phần này sẽ là “trái tim” của bản khiếu nại, với lập luận pháp lý chuyên sâu và viện dẫn cụ thể để tăng sức thuyết phụ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét