Thứ Tư, 5 tháng 11, 2025

Những năm đầu sau khi ra quân

 “Những năm đầu sau khi ra quân”)

Nhưng các con, các cháu à,
Trong những ngày tháng khổ cực ấy, có một chuyện mà đến bây giờ, đã hơn năm mươi năm rồi, ông vẫn không thể nào quên được.
Hồi đó, mẹ của các con mới sinh được thằng anh cả được ba tháng.
Nhà thì chẳng có đồng nào, mà mẹ nó thì sinh mổ, không có sữa cho con bú.
Ông nhìn con khóc ngằn ngặt trên tay mẹ mà ruột gan như bị ai bóp nghẹt.
Lúc ấy, người ta đang bán thuốc lá. Mỗi người chỉ được mua hai bao. Nhưng trước khi bán, họ xé cái đầu bao thuốc đi, để khỏi có người mang ra buôn lại.
Thế mà mình thì vẫn nghĩ, “thôi, dù sao có còn hơn không, biết đâu ra ngoài bán lại được dăm đồng, đủ mà mua chút sữa cho con”.



Ông mới nói với vợ:
“Em ơi, ngoài kia người ta đang bán thuốc. Em ra xếp hàng, mua hai bao về bán kiếm chút đỉnh. Con nó còn nhỏ quá, thương lắm.”
Vợ ông nghe lời, bế đứa nhỏ mới ba tháng tuổi, lóc cóc ra xếp hàng giữa trời nắng chang chang.
Mua được hai bao thuốc, vừa bước ra khỏi cửa hàng thì mấy anh công an, bảo vệ chạy tới.
Họ tưởng vợ ông là dân buôn, thế là bắt ngay, chẳng hỏi han gì.
Họ đưa cả hai mẹ con – người mẹ còn yếu, đứa con còn đỏ hỏn – vào phòng giam.
Cái phòng giam chật hẹp, tường ẩm mốc, không giường, không chiếu, chỉ có mấy tấm gạch lạnh buốt.


Ba ngày.
Ba ngày trời, hai mẹ con bị nhốt ở đó.
Đứa bé thì khóc khản cả tiếng, mẹ thì kiệt sức.
Khi họ thả ra, ông nhìn vợ mà lòng quặn thắt.
Mái tóc rối bù, mặt xanh xao, quần áo xộc xệch.
Về đến nhà, bà ấy đi tắm, ông còn nhìn thấy trên người vợ có cả những con dận trắng đang bò – do nằm chung với người bị giam lâu ngày trong chỗ ẩm thấp.
Lúc ấy, ông chỉ biết ôm vợ, ôm con mà khóc.
Khóc vì thương, vì tủi, vì bất lực.
Không phải vì mình khổ, mà vì người thân của mình phải chịu khổ lây.
Câu chuyện ấy, ông kể lại không phải để oán trách ai,
mà để các con, các cháu hiểu rằng –
ngày xưa, để có được một đồng tiền, để nuôi được một đứa con khôn lớn,
chúng ta đã phải đánh đổi bằng bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, và cả lòng tự trọng bị xé nát trong im lặng.
– NHỮNG NĂM THÁNG SAU CHIẾN TRANH
Những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc…
Tôi – một người lính trở về từ mặt trận, mang trên mình thương tật, sức khỏe chỉ còn lại chưa đầy hai mươi phần trăm.
Nhà nước cho hưởng một chút trợ cấp thương tật – ít lắm, chỉ đủ mua vài ký gạo, vài bộ quần áo cũ, một chiếc xe lăn để di chuyển.
Ngoài ra… chẳng còn gì.
Lúc ấy, xã hội vừa chuyển mình sau chiến tranh, cái gì cũng thiếu.
Nhà cửa thì không, việc làm thì chẳng ai thuê, công an Việt Nam thì cũng không nhận.
Chúng tôi – những người thương binh trẻ – phải tự tìm đường sống.
Không vì bản thân… mà vì vợ, vì con.
Vợ thì yếu, con thì còn nhỏ, mà tiền học, tiền ăn, tiền sữa… đều trông chờ vào hai bàn tay tật nguyền của mình.
Tôi làm bất cứ việc gì có thể.
Mua hộp sắt trong trung tâm thương mại Tràng Tiền, đem ra ngoài cửa bán.
Sáng sớm, mua từng tờ báo, chèn ép cho phẳng phiu rồi đứng bán bên bờ hồ.
Mỗi tờ lời được vài xu, góp lại để mua bát cơm, chai nước mắm, gói thuốc lá rẻ tiền.
Cuộc đời lúc đó… khổ nhưng vẫn phải cười
.
Nhưng rồi, những công việc nhỏ nhoi ấy, cũng không được yên thân.
Thỉnh thoảng, công an trật tự đến bắt, bảo là “buôn bán trái phép”.
Có lần, họ giữ chúng tôi trong bốn bức tường suốt hai mươi bốn tiếng,
rồi sáng hôm sau, bắt ra đường cầm chổi quét phố, gọi là “lao động công ích”.
Tôi chẳng oán thán, chỉ thấy tủi… vì thân mình là thương binh, mà vẫn bị coi như kẻ vi phạm
Những năm 1983 đến 1985, đó là quãng đời cực khổ nhất.
Làm gì cũng sợ bị bắt, buôn gì cũng bị tịch thu.
Mua ít thuốc lá Bông Sen trong nhà máy đem bán – bị bắt.
Buôn vài ký gạo, chai nước mắm ra Bắc – bị bắt.
Người ta nói tôi “buôn bán không có giấy phép”.
Nhưng nếu không làm, thì vợ con tôi biết sống bằng gì?
Tôi kể lại những điều này,
không phải để than thở,
mà để con cháu hôm nay hiểu rằng:
cái thời cha ông các con sống, không có gì dễ dàng.
Không có nhà, không có xe,
không có giường êm nệm ấm.
Chỉ có mồ hôi, nước mắt, và nghị lực sống.
Còn bây giờ, các con sinh ra,
đã được ăn ngon, mặc đẹp, học hành đầy đủ.
Cha chỉ mong, khi các con nhìn lại,
sẽ hiểu rằng mỗi bát cơm, mỗi căn nhà, mỗi giấc ngủ yên hôm nay…
đều được đổi bằng máu, bằng thương tật,
và bằng những tháng ngày khổ cực của thế hệ c
ha ông.
NHỮNG CHUYẾN TÀU BUÔN
Những năm 1983 đến 1985…
Đó là thời mà đất nước vừa gượng dậy sau chiến tranh,
cuộc sống còn lắm khó khăn, thiếu thốn trăm bề.
Tôi – một người thương binh, thân thể tàn tật,
chẳng có nghề nghiệp gì ổn định, cũng chẳng được nhận vào cơ quan nào.
Muốn sống, muốn nuôi vợ con, thì chỉ còn cách bám vào những chuyến tàu,
mà người ta gọi là tàu chợ.
Hồi ấy, trên đường sắt có hai loại tàu: tàu Thống Nhất và tàu chợ.
Tàu Thống Nhất thì giá vé cao, lại kiểm tra giấy tờ nghiêm ngặt.
Còn tàu chợ thì rẻ hơn, ít kiểm tra, đông người, chen chúc, ồn ào,
nhưng chính nơi đó… là chỗ trú của những người như tôi.
Người không nhà, không việc, không vốn liếng – chỉ có hai bàn tay và chút sức còn sót lại.
Tôi đi tàu từ Hà Nội vào Vinh,
rồi lại từ Vinh vào Nha Trang.
Có khi tàu dừng ở Đà Nẵng thì xuống,
có khi đi thẳng tới Nha Trang để mua hàng.
Hàng của tôi – đơn giản lắm – chỉ là những can nước mắm.
Mỗi can mười lít, có can hai chục lít,
thuê người gánh lên tàu, xếp chồng thành đống rồi tôi nằm cạnh mà canh
.
Đêm đến, tôi nằm co ro trên sàn tàu,
bên cạnh là những can nước mắm – vừa là hàng, vừa là “giường ngủ”.
Tàu đông thì không có chỗ, tôi phải chui xuống gầm ghế,
hoặc chui cả vào trong nhà vệ sinh, nằm cạnh mùi nước mắm nồng nặc.
Nhưng khổ nhất là khi tàu chạy lâu, người ta hút thuốc,
tàn thuốc rơi xuống, làm thủng can, nước mắm chảy ra lúc nào không biết.
Đến khi ra đến Nam Định hay Vinh, mở ra thì nước mắm đã cạn,
chỉ còn vỏ can và mùi mắm nồng khắp toa
Vậy mà vẫn phải gồng mình,
bê những can còn lại xuống sân ga, thuê xe xích lô chở ra chợ bán.
Mỗi can lời được vài đồng,
gom góp lại để mua thêm gạo, thêm mắm, thêm sữa cho con.
Rồi tôi chuyển sang buôn gạo.
Mỗi bao chỉ mười cân, có bao hai chục cân,
nhưng thường mua mười thì chỉ còn chín rưỡi, vì gạo rơi vãi dọc đường.
Tôi mua gạo trong Nam, chở ra Bắc – đến Vinh là bán hết
có khi ra tận Nam Định, Thanh Hóa.
Lời chẳng bao nhiêu,
nhưng cũng đủ để nuôi cả nhà qua tháng.
Có thời gian tôi buôn một loại quả nhỏ, vàng như trứng gà,
trong Nam gọi là “quả Nêkima” hay “Ôkima”.
Ở miền Bắc lúc đó người ta chuộng lắm,
tôi mua từng rổ hai, ba chục cân, xếp đầy toa tàu,
rồi ra Bắc bán – cũng có đồng ra đồng vào.
Nhưng đời buôn chuyến đâu phải lúc nào cũng suôn sẻ.
Có lần tôi mua cá khô ở Nha Trang,
chở tàu về đến gần Hà Nội thì trời đổ mưa.
Cá khô gặp nước ẩm, ướt nhão hết, bốc mùi, vứt đi cả.
Bao công sức, bao vốn liếng – mất trắng.
Rồi còn những lần bị bắt.
Bảo vệ ga, thuế vụ, công an – họ coi chúng tôi là “buôn lậu”,là dân buôn
“kinh doanh trái phép”, “không giấy tờ”.
Bị bắt thì có người bị giữ cả tuần,
hàng hóa thì hư hỏng, đổ nát.
Tôi cũng từng bị giam mười ngày,
ra ngoài chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng.
Nhưng dù thế nào, tôi vẫn không nản.
Bởi sau lưng là vợ con, là mái nhà nhỏ nghèo nàn nhưng ấm áp.
Tôi nói với chính mình:
“Còn sống là còn làm. Còn tay, còn chân, còn hơi thở – thì còn hy vọng.”
Giờ đây, khi đã ngoài bảy mươi,
nhớ lại những chuyến tàu chật chội,
tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray,
mùi nước mắm nồng, mùi cá khô, mùi mồ hôi của người lao động nghèo…
tôi thấy đó là những năm tháng khổ nhưng đáng sống nhất.
Bởi trong khổ cực, tôi học được cách đứng lên,
học được giá trị của lao động,
và hiểu sâu sắc hơn bao giờ hết –
thế nào là “nghĩa tình con người”
trong gian khó.
– NHỮNG NGƯỜI BẠN CÙNG CHUYẾN TÀU
Ngày ấy, người ta gọi chúng tôi là “đi buôn”.
Nhưng thật ra, đi buôn không phải là làm giàu.
Đi buôn – là đi kiếm sống. Là cái cách để những người thương binh như chúng tôi tồn tại trong xã hội.
Một mình thì không thể đi, cho nên chúng tôi thường đi từng nhóm – năm, bảy người,
có khi mười người cùng nhau.
Cứ thế, bám tàu mà sống, rong ruổi dọc đường sắt Bắc – Nam.
Mỗi chuyến tàu là một hành trình dài.
Khi tàu rời ga Hà Nội, chúng tôi biết phải một tháng sau mới trở lại.
Trên tàu, không điện thoại, không xe máy, chẳng có cách nào báo tin về cho vợ con.
Mỗi lần đi, chỉ dặn lại:
“Ở nhà trông con, anh đi chuyến này có lời sẽ gửi tiền về.”
Rồi lên tàu, lòng nặng trĩu mà vẫn phải cười.
Trên đường, chúng tôi chia nhau việc:
người mua hàng, người trông hàng, người thương lượng, người bán.
Hàng thì đủ thứ – nước mắm, thuốc lá, cá khô, gạo, trái cây.
Cứ đến mỗi chợ dọc đường tàu,
người dân ở đó đã quen mặt,
thấy chúng tôi là mừng rỡ, bảo:
“Các chú thương binh lại vào rồi à, để chị gói hàng cho nhanh!”
Người ta thương, người ta tin,
nên hàng hóa luôn đầy, chẳng bao giờ thiếu
Nhưng khổ nhất vẫn là lúc tàu chạy về Bắc.
Ngồi canh hàng trong toa chật ních người,
đêm xuống thì nằm dưới gầm ghế, cạnh những can nước mắm,
sáng ra, lưng mỏi, người đau,
mà vẫn phải dậy tính toán tiền nong, sổ sách.
Có lúc, tàu đến ga Nam Định hay Thanh Hóa,
chúng tôi phải thuê xích lô, ba gác để chở hàng ra chợ bán.
Mỗi đồng lời đều đổi bằng mồ hôi,
có khi bằng cả những giọt nước mắt
Nhưng không phải ai cũng hiểu.
Có lần, tôi mang nước mắm về nhà,
chưa kịp mở nắp can thì Tổ trưởng dân phố đến báo cho thuế vụ.
Họ ập vào kiểm tra,
bảo tôi “kinh doanh trái phép”,
rồi tịch thu hàng, tịch thu cả tiền.
Tôi mất trắng.
Lần khác, tôi buôn thuốc lá Bông Sen từ Thanh Hóa –
cũng bị bắt, bị thu hết.
Bao công sức, bao vốn liếng tích cóp… tan thành mây khói.
Ngày ấy, cái nghèo, cái khổ nó đeo bám người ta dai dẳng lắm.
Làm gì cũng sợ, buôn gì cũng bị bắt.
Nhưng không làm thì lấy gì mà sống?
Tôi vẫn nhớ mãi cảnh chúng tôi ngồi chen chúc nhau trên sàn tàu,
nói cười, chia nhau miếng cơm, bát nước.
Thằng này thương thằng kia, cùng khổ mà đùm bọc nhau.
Có người cụt chân, có người mất tay, có người bị thương trong đầu,
nhưng ai nấy đều lạc quan, vẫn đùa rằng:
“Thương binh mà vẫn buôn giỏi, còn hơn nhiều ông khỏe mạnh ngồi không!”
Giờ đây, khi nhớ lại,
tôi vẫn thấy hình ảnh những gương mặt ấy,
lem luốc mà hiền lành, mệt mỏi mà vẫn cười.
Họ không còn nhiều người sống đến hôm nay,
nhưng ký ức về họ thì vẫn còn nguyên vẹn trong tôi.
Đó là những người bạn cùng chuyến tàu,
cùng chia nỗi khổ, cùng chia bát cơm,
và cùng tôi đi qua những năm tháng khó nhọc nhất của cuộc đời.
Tôi muốn kể lại, để con cháu hôm nay hiểu rằng,
những đồng tiền, những bữa ăn, những ngôi nhà yên ấm bây giờ
đều được đánh đổi bằng những chuyến tàu mồ hôi và nước mắt như thế.
Đừng bao giờ quên –
phía sau những ngày sung sướng hôm nay
là cả một thế hệ cha ông âm thầm, chịu đựng, và đứng dậy sau đổ nát


“Nếu câu chuyện này chạm đến trái tim bạn… xin hãy để lại một đăng ký kênh, một lượt chia sẻ… để tiếng nói của người lính già trong những ngày cuối đời… không bị rơi vào lãng quên.
Hẹn gặp quý vị trong phần 2 của câu chuyện.
Chúc mọi người một đêm an yên.” #chuyendemkhuya #tamsu #nguoilinhgia #cuuchienbinh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét